Chuyển đến nội dung chính

Hãng Dĩa Lê Văn Tài

 Hãng Dĩa Lê Văn Tài (Hãng Dĩa Việt Nam)

Cuối thế kỷ XIX, đường A’Dran (đến 1920 đổi tên thành Georges Guynemer, từ 1955 thành Võ Di Nguy, từ 1976 là Hồ Tùng Mậu) là con đường nhỏ nhưng đông người qua lại vì gần chợ, lại có nhiều cửa hàng của người Hoa. Tuy nhiên, trên con đường này, đoạn giữa đường Denis Frères (Ngô Đức Kế) và Hamelin (Huỳnh Thúc Kháng) có tiệm tạp hóa Vĩnh Thới Sang tại số nhà 82 do người Việt làm chủ.

Thời đó, tiệm tạp hóa có bán cả nữ trang và ông chủ tiệm là Lê Văn Thanh giỏi nghề kim hoàn. Tương truyền ông đã từng chạm hoàn toàn bằng thủ công một chiếc vòng chạm trổ chi tiết rất đẹp và khéo. Thả chiếc vòng xuống nước, vòng cân đối đến độ nằm thẳng băng trên mặt nước. Chiếc vòng này đã được một giải thưởng dành cho nghề kim hoàn thời đó ở Sài Gòn. 


Trong số các con của ông Thanh, có ông Lê Văn Tài, sinh năm 1895 tại Sa Đéc. Năm 1927, ông Tài chính thức đăng bộ cửa tiệm Vĩnh Thới Sang của cha mình. 

Do không thích nghề kim hoàn của cha và nhân một dịp ông cùng vợ là bà Ngô Thị Mão về Vĩnh Kim coi hát cải lương, ông Lê Văn Tài chuyển sang buôn bán máy hát dĩa và radio. Đó là những thứ máy móc mà giới trung lưu trở lên ở Sài Gòn, lục tỉnh thích mua. Đồng lòng với chồng, bà Ngô Thị Mão, một phụ nữ bặt thiệp, có nhan sắc và giỏi ngoại giao, chuyên lo giao dịch mần ăn trong thời gian này. 

Trước đó, từ năm 1936, hãng dĩa hát ASIA của thầy Năm Mạnh đang chiếm lĩnh thị trường dĩa hát cả nước, nhất là ở miền Nam. Nhiều tuồng hay và để đời đã được sản xuất từ hãng này như các tuồng San Hậu, Quan Âm Thị Kính, Tô Ánh Nguyệt, Hoa rơi cửa Phật...


Đến năm 1944, bà Ngô Thị Mão mất. Ông Lê Văn Tài thương nhớ người vợ cùng sở thích cải lương và đờn ca tài tử, nên quyết tâm chuyển từ nghề kinh doanh máy hát dĩa và radio sang lãnh vực sản xuất dĩa hát từ năm 1947 với việc thành lập hãng sản xuất dĩa hát. Cửa hiệu Vĩnh Thới Sang đã đổi thành “Hãng dĩa Lê Văn Tài” kể từ đó. Ông bà Lê Văn Tài có sáu người con. Trong đó, người con đầu Lê Văn Năng làm xuất nhập cảng và cũng có tiếng trong giới doanh thương Sài Gòn thập niên 1940, nắm giữ 18 môn bài xuất nhập cảng. Người con thứ năm, Lê Thành Kiệt sinh năm 1930 và Lê Ngọc Liên, con thứ sáu, sinh năm 1932. 

Những người con này về sau giúp ích ông bà rất nhiều trong nghề mới. Anh Lê Văn Năng được cho sang Pháp học thu dĩa, khi về dạy lại cho người thứ bảy là Lê Thành Lực. Anh Lực sẽ chịu trách nhiệm thu thanh. Máy móc do ông Lê Văn Tài bỏ tiền ra để anh Năng nhập cảng về. Sau đó, hãng sẽ tổ chức sản xuất, tìm thầy tuồng, mua kịch bản, mời đào kép thể hiện lời ca tiếng hát, diễn tuồng tích, hãng thu âm xong gửi dĩa gốc qua Pháp để làm khuôn, in ra dĩa, rồi gửi về dán nhãn, đóng gói và phát hành đi khắp nơi.

Anh Kiệt cùng ông gánh vác chuyện làm ăn, là người thay thế mẹ (bà Mão) đi mời các nghệ sĩ tới thâu thanh và giao tế các đại lý. Anh Kiệt khéo léo cư xử, nhất là đối với giới nghệ sĩ là những người cần được chiều chuộng. Qua công việc, ông dần đào tạo em gái mình là Lê Ngọc Liên, sau này thường được gọi là cô Sáu Liên, sẽ là người nối tiếp sự nghiệp gia đình. Các con trong nhà, ngoài giờ học đều tham gia sản xuất băng dĩa ở nhà, mỗi người một tay từ ghi âm, đóng gói, dán nhãn dĩa. Thậm chí giả tiếng gà gáy, chim hót, heo kêu để thu âm cũng là việc do anh Lê Thành Lực đảm nhiệm.

Lúc còn phụ giúp cho cha và anh, Ngọc Liên đang học ở trường Tôn Thọ Tường, nay là Ten-Lơ-Man. Đến năm 1950, Lê Thành Kiệt, người anh hướng dẫn Ngọc Liên theo nghề gia đình, mất sớm khi chỉ mới 20 tuổi vì căn bệnh tim. Đó là số phận khiến Ngọc Liên quyết chí thay anh mình nối nghiệp nhà.

Từ lúc khởi nghiệp, hãng dĩa đã thu rất nhiều giọng ca vàng thời ấy như Tám Thưa, Minh Chí, Năm Phỉ, Phùng Há... Soạn giả Viễn Châu gắn bó với hãng dĩa từ thuở ban đầu. Lúc đầu, ông là thầy đờn, chơi nhạc tài tử cùng ông Lê Văn Tài. Khi hãng dĩa được lập ra, ông Tài bảo ông Viễn Châu: “Thằng Bảy, về viết tuồng đi coi sao!”. Ông Viễn Châu về viết vở tuồng đầu tay có tên Con chim họa mi mang ra cho ông Tài xem. Tuổng được dựng và từ đó, Viễn Châu trở thành thầy tuồng, ngày càng nổi tiếng. Ông Lê Văn Tài cũng gắn bó thân thiết với quái kiệt Trần Văn Trạch và rất được ông Trạch nể nang. 

Lúc đầu, hãng dĩa hát của ông thu cổ nhạc nhưng sau đó thu cả tân nhạc. Trong hồi ký, nhạc sĩ Phạm Duy kể lại khi vào Sài Gòn năm 1951: “... khi tôi tới gặp chủ nhân một hãng sản xuất đĩa hát Việt Nam là Lê Văn Tài thì tôi được lĩnh trước một số tiền tác quyền khá lớn. Tân Nhạc ở Saigon lúc này đã có đất sống. Trước kia, các hãng sản xuất đĩa hát chỉ thu thanh cổ nhạc, nay đã khởi sự thu thanh tân nhạc”. Từ đó, Phạm Duy yên tâm vì: “Tôi thấy rằng nếu vào Nam sinh sống, tôi còn có thể tổ chức cho gia đình đi hát ở mọi nơi, nếu chúng tôi thành lập được một ban hợp ca và phối hợp với một ban kịch nhỏ. Chúng tôi sẽ có thể sống bằng nghề âm nhạc, một nghề rất độc lập...” và rồi ông trở ra Hà Nội, dùng số tiền lãnh trước của hãng Lê Văn Tài để mua vé máy bay cho tất cả mọi người đi vào miền Nam.

Hãng dĩa Lê Văn Tài đã là cú hích quan trọng khiến nhạc sĩ này mạnh dạn vào sống trong Nam, tham gia đời sống văn nghệ và giữ vai trò lớn trong sáng tác ca khúc trên quê hương mới. Xem lại cuốn sổ ghi chép công việc của hãng dĩa Lê Văn Tài giai đoạn này, thấy có rất nhiều ghi chú liên quan đến Ban hợp ca Thăng Long và các nhạc sĩ Phạm Duy, Phạm Đình Chương, các ca sĩ Thái Thanh, Thái Hằng, Khánh Ngọc với các ca khúc Quê nghèo (Thái Thanh hát), Viễn du (Phạm Duy và ban Thăng Long), Tình ca (Phạm Duy và Thái Thanh ca)... Các ca khúc của nhạc sĩ khác cũng được thu âm như Hội nghị Diên Hồng, Quân lên đường (Lưu Hữu Phước), Tiếng hát sông Lô (Văn Cao), An Phú Đông (Lê Bình) mang âm hưởng hào hùng của cuộc kháng chiến. Hãng còn thu rất nhiều dĩa của người ban nhạc Soudouch (Campuchia) và kinh Phật. 


Năm 1961, bà Lê Ngọc Liên lập gia đình với chồng là thầy giáo dạy Anh văn. Năm 1964, ông Lê Văn Tài mất, để lại hãng dĩa cho các con tiếp tục kinh doanh. Qua năm sau 1965, bà Sáu Liên cùng em là Ngọc Diệp xuất bản nhạc phẩm dưới danh hiệu Việt Nam nhạc tuyển để bán. Đến 1968, bà Sáu Liên tách ra riêng, thành lập một cơ sở mới ở bên kia đường, số 101 Võ Di Nguy, lấy tên là hãng Dĩa hát Việt Nam, dùng logo của hãng dĩa của cha mẹ và vẫn tiếp tục làm việc chung với cô Ngọc Diệp. Ở đây, bà mở thêm một nhà in nhỏ để in bìa băng dĩa hay các tập tuồng, vở ca cổ. Những cuốn này khổ nhỏ, không nhiều trang nhưng được chào đón nồng nhiệt của mọi người từ Sài Gòn - Gia Định đến các tỉnh. Lúc đó, radio bắt đầu phát triển hơn, dĩa hát được giới trung lưu trở lên nghe nhiều nhưng giới bình dân chỉ cần bỏ ra số tiền nhỏ mua một cuốn in bài vọng cổ là có thể nghêu ngao cả ngày. Chị Loan, con bà Sáu Liên kể: “Chỉ cần in những cuốn ca cổ nhỏ xíu thôi, má tôi nuôi được cả nhà vì bán rất đắt hàng!”. Còn căn nhà số 82 của gia đình vẫn tiếp tục kinh doanh dĩa hát do người thứ ba Lê Ngọc Anh và người thứ bảy bán dĩa hát, lúc đó không chỉ có cổ nhạc mà còn có tân nhạc, băng nhạc Shotgun...

Lúc này, ngoài hãng ASIA (do ông Ba Đức, con ông Năm Mạnh thay cha điều hành), còn có nhiều hãng dĩa như Việt Hải, Continental... Tuy nhiên hãng Dĩa hát Việt Nam đã dần lấn lướt nhờ tổ chức tốt, trong đó bà Sáu Liên lo chuyện tổ chức mời nghệ sĩ, thu âm, còn việc ngoại giao, lăng xê nghệ sĩ trên báo đài thì người chồng của bà chu tất.

Các nghệ sĩ nổi tiếng như Minh Phụng, Minh Cảnh, Lệ Thủy lần lượt đầu quân về hãng dĩa và trở thành nghệ sĩ độc quyền. Mỗi hợp đồng độc quyền trị giá vài lượng vàng, còn tiền thu bài tính riêng, đã vậy cát xê liên tục tăng. Bà Sáu Liên kể là lúc đó, cha của nghệ sĩ Minh Vương có dắt anh đến gặp bà. Lúc đó Minh Vương đang còn rất trẻ, chưa có tiếng tăm dù đã hát cho hãng dĩa Việt Hải. Bà Sáu Liên cùng soạn giả Loan Thảo quyết tâm lăng xê giọng ca của nghệ sĩ Minh Vương với bài Bông lang (sic) hát cùng với một cô đào đang nổi tiếng và từng hát cặp với Minh Phụng, Minh Cảnh là Lệ Thủy. Minh Vương phất lên từ đó, được soạn giả Loan Thảo “đo ni đóng giày”, tìm bài bản phù hợp để cho anh biểu diễn. 

Sau đó, đến các giọng ca Chí Tâm, Thanh Kim Huệ được đưa lên từ hãng dĩa này. Bà Sáu Liên thỉnh thoảng còn nhắc với các con về buổi tất niên trước năm 1975 tại nhà của gia đình số 37 Phạm Đăng Hưng, Đa Kao với đông đủ các nghệ sĩ của hãng dĩa, một buổi tất niên thời hoàng kim của hãng Dĩa hát Việt Nam. Tân nhạc đã có vị trí trong hãng dĩa của bà, thu nhiều dĩa nhạc của Phương Dung, Hoàng Oanh và đến đầu thập niên 1970, các ca khúc tân cổ đều chuyển sang thu âm bằng băng cassette và băng cối. Những băng nhạc như Rạng đông trên quê hương, Tình bơ vơ rất thu hút.

Sau năm 1975, bà Sáu Liên không duy trì được hãng dĩa nhưng cố giữ nghề bằng cách liên kết với một đài truyền hình ở miền Tây Nam bộ để phát một số bài ca hay được phép hát. Đến năm 1991, bà làm lại băng dĩa, nhờ pháp nhân của ban nhạc Đồng Tháp làm lại các tuồng như Lan và Điệp, Người tình trên chiến trận. Bà tiếp tục lăng xê các giọng ca mới như Châu Thanh, Phượng Hằng, Cẩm Tiên. Bà vẫn còn lợi thế của một người trong ngành, dù không phải là nghệ sĩ nhưng từng sống trong không khí âm nhạc từ nhỏ, biết nhận ra tuồng hay, bài ca ngọt ngào và đánh hơi được giọng ca nào sẽ trở thành sao. Nhiều ngôi sao tân cổ nhạc mới xuất hiện từ hãng dĩa của bà, nhiều tuồng cải lương được dàn dựng ở đây trở nên ăn khách như Lan và Điệp, Người tình trên chiến trận, Đêm lạnh chùa hoang, Mùa thu trên Bạch Mã Sơn, Tâm sự loài chim biển...

Tuổi cao, do sức khỏe và sự minh mẫn của bà đã giảm sút nên chị Loan, con gái bà cố giữ hãng Dĩa hát Việt Nam trong tình hình băng dĩa ế ẩm. Ngôi nhà số 82 Hồ Tùng Mậu phải cho thuê tầng trệt để có tiền nuôi hãng dĩa. Chị Loan nói: “Tôi cố giữ hãng dĩa cho má vui, dù không biết còn mấy người đi mua dĩa trong khi ai cũng có thể nghe đàn hát trên internet”. Bà Sáu không thường lui tới hãng và nơi tầng lầu bày bán dĩa, nhưng bà vẫn giữ rất kỹ những dĩa gốc thu từ khi xưa. Chị Loan kể người trong nhà thường bảo nhau: “Ăn trộm mà có vào nhà, má không sợ mất hột xoàn, tiền bạc, mà chỉ sợ mất dĩa gốc!”. Những dĩa gốc này, suýt bị tiêu hủy năm 1978, có lúc đem đi giấu nhờ dưới gầm giường nhà hàng xóm giữa đám bụi bặm cho đến sau này bà chịu tốn kém chuyển thành CD, lưu giữ được di sản vọng cổ và tuồng cải lương một thời.


Bao nhiêu nước chảy qua cầu từ đó, bao nhiêu người trở thành ngôi sao sân khấu, bao nhiêu tuồng tích trở thành khoảng đời trên sân khấu khiến bao người thổn thức. Những nghệ sĩ năm xưa từng thu dĩa tại hãng Lê Văn Tài và Dĩa hát Việt Nam vẫn yêu quý bà, rất vui mừng khi được gặp lại bà chủ hãng dĩa tận tâm và phóng khoáng với anh em nghệ sĩ từ thuở họ chân ướt chân ráo theo con đường ca hát. Bà đã và sẽ giữ lửa đam mê đến phút cuối, ngọn lửa có được từ khi bà còn là cô bé mới lớn phụ cha mẹ ở hãng dĩa Lê Văn Tài 70 năm trước.






Nhận xét

Xem nhiều nhất

Khu vực kinh Nhiêu Lộc 196

 Saigon 1969 - Không ảnh khu vực kinh Nhiêu Lộc, nhà sửa chữa xe lửa ở giữa ảnh, nhà thờ phía dưới là Tân Chí Linh.

Đi lễ chùa ngày Tết

 Người Miền Nam đi Chùa những ngày Tết 1960s

Nhà thờ Chợ Quán

 Nhà thờ Chợ Quán ngày xưa (hình chưa rõ năm chụp, được phục hồi màu), đây là một nhà thờ hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là cổ nhất thành phố, từng trải qua 8 lần xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử. Tóm tắt lịch sử của nhà thờ  Nhà thờ Chợ Quán (ở 120 Trần Bình Trọng, phường Chợ Quán, TP.HCM) - giáo xứ Chợ Quán, Tổng giáo phận Sài Gòn - khởi nguồn từ một công trình đơn sơ được dựng lên vào năm 1670. Đến khoảng những năm 1720, các linh mục thừa sai bắt đầu xây dựng lại nhà thờ lần đầu tiên bằng vật liệu kiên cố hơn. Trải qua hàng thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ không ít lần bị phá hủy và tái thiết. Phiên bản hiện tại là lần xây thứ 8, được khởi công dưới thời Cha Nicolas Hamm Tài. Năm 1885, ngài mua xe bò, chở đất từ khu vực Bàu Chùa (còn gọi là Bàu Sen) về đắp nền, khởi động công trình với sự hỗ trợ của Cha Charles Boutier Thiết. Tuy nhiên, công trình tạm dừng một thời gian cho đến năm 1887, khi Cha Jules Errard Y về nhận quản nhiệm giáo xứ. Ngài tiếp tục hoàn t...

Đường Cường Để

 Đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng) đoạn Nguyễn Du

Bến xe Petrus Ký

Bến xe Petrus Ký Saigon 1960. Nằm trên đường Petrus Ký, nay là đường Lê Hồng Phong, thuộc Quận 5 và Quận 10. Xe từ bến Petrus Ký tỏa đi khắp miền Nam, từ vĩ tuyến 17 (Cầu Hiền Lương) cho đến tận Cà Mau. Sau năm 1975, bến xe này được đổi tên thành Xa cảng Miền Đông (vào cuối năm 1976) trước khi các bến xe hiện đại được di dời ra vùng ngoại vi. Bến xe Petrus Ký SÀI GÒN những năm 1960. Đây là bến xe liên tỉnh sầm uất, là nơi tập trung của hàng trăm chiếc xe khách đi các tỉnh miền Tây và miền Trung. Trong thập niên 1960, để giải quyết tình trạng lộn xộn của các bến xe nhỏ lẻ trong nội đô, chính quyền đã tập trung nhiều hãng xe về đây. Vào thời điểm này, bến xe Petrus Ký đặc trưng với những dãy xe đò mang màu sắc của các hãng xe tư nhân, các sạp hàng quán vỉa hè và dòng người tấp nập từ các tỉnh đổ về Sài Gòn. TTO - Năm 1940, chính quyền của Pháp ở Sài Gòn đặt tên cho con đường giới hạn bởi đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và đường 11è RIC (nay là đường Trần Phú) là đường...

Sài Gòn năm 1960

 Sài Gòn năm 1960 dưới ống kính người Pháp. Ống kính người Pháp thường bắt trọn những khoảnh khắc đời thường nhất: từ cảnh người dân tấp nập đi chợ buổi sớm, những chiếc xích lô máy lạch bạch trên phố, cho đến hình ảnh trẻ em vui chơi hồn nhiên bên vỉa hè. Nhịp sống Sài Gòn thập niên 1960. đầy ắp những nỗi lo về thời cuộc. Xen lẫn tiếng nhạc xập xình là nhịp sống hối hả của những người lao động, những xe hủ tiếu gõ đêm khuya và âm hưởng của một thành phố không ngủ giữa vòng xoáy lịch sử. Sài Gòn năm 1960 ghi lại qua ống kính người Mỹ. Hình ảnh Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính của những người Mỹ—từ các phóng viên ảnh chuyên nghiệp đến những quân nhân—đã phác họa nên một "Hòn ngọc Viễn Đông" đầy tương phản giữa sự phồn hoa và những góc khuất đời thường. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn những năm 1960 Trước đó, tháng 12/1959, nhà thờ được tôn phong là Vương cung thánh đường (tiểu vương cung thánh đường) và nổi bật với bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình được làm phép đầu năm 1959.  Công trình ma...

Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc

 Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc tại SÀI GÒN những năm 1960.  có trụ sở tại đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Đóng vai trò là cơ quan chỉ huy và liên lạc cho toàn bộ lực lượng quân sự Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam.  Các đơn vị chiến đấu chính của Hàn Quốc (như Sư đoàn Mãnh Hổ và Sư đoàn Bạch Mã) chủ yếu hoạt động ở Vùng II Chiến thuật, với các căn cứ chính tại Quy Nhơn, Bình Khê và Ninh Hòa. Đơn vị không chiến đấu đầu tiên của Hàn Quốc, "Lực lượng Bồ câu trắng", đến Biên Hòa vào tháng 2 năm 1965.