Chuyển đến nội dung chính

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh là một thư viện công cộng tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Thư viện hiện trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, được xem là một trong những thư viện lâu đời nhất tại Việt Nam.


Vị trí

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ tại số 69 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, Quận 1, nằm trên một khuôn viên bao quanh là bốn tuyến đường Lý Tự Trọng, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực và Nam Kỳ Khởi Nghĩa.

Lịch sử

Năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Gustave Ohier cho thành lập Thư viện Tư liệu Chính phủ Nam Kỳ cho hai Hội đồng chiến tranh thường trực ở Nam Kỳ. Năm 1882, thư viện này trở thành thư viện công cộng, là thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, thư viện hoạt động không hiệu quả vì không đủ kinh phí mua sách báo, trả công cho nhân viên. Đến năm 1902, thư viện được đổi tên thành Thư viện Nam Kỳ (tiếng Pháp: Bibliothèque de la Cochinchine), còn gọi là Thư viện Sài Gòn (tiếng Pháp: Bibliothèque de Saïgon), cơ sở đặt tại cánh trái của Văn phòng Thư ký Chính phủ Nam Kỳ tại địa chỉ số 27 đường De La Grandière (tức tòa nhà Dinh Thượng thơ). Tính đến năm 1909, vốn tài liệu của Thư viện Sài Gòn đã đạt 10.000 tập sách về các chủ đề: luật pháp, khoa học, lịch sử và văn học, cùng với số lượng báo và tạp chí. Năm 1919, thư viện chuyển sang địa chỉ số 34 đường De La Grandière, sử dụng chung cơ sở với Kho Văn khố. Theo tuần báo L'Éveil Économique de l'Indochine ngày 2 tháng 11 năm 1924, cơ sở mặc dù đã được mở rộng nhưng vẫn không đáp ứng được yêu cầu phát triển của thư viện, không gian nơi đây được nhận xét là quá nhỏ hẹp với một thư viện hiện đại nên thư viện được xem xét chuyển cơ sở sang một tòa nhà khác rộng rãi và phù hợp hơn. Bấy giờ, tại phòng đọc thư viện đã có 700 độc giả mỗi tháng, bên cạnh đó có 1.000 lượt mượn sách.

Năm 1946, Thư viện Nam Kỳ được chính quyền Pháp bàn giao cho chính quyền Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ. Năm 1949, chính quyền Quốc gia Việt Nam đổi tên thành Thư viện Nam phần. Thủ thư đầu tiên của Thư viện Nam phần là ông Đoàn Quang Tấn, nhận chức vào tháng 1 năm 1948. Thời điểm này thư viện có 56.000 tập sách, chủ yếu là sách tiếng Pháp, và 470 nhan đề. Theo báo cáo gửi Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc vào năm 1950, Thư viện Nam phần có gần 70.000 tập sách, trong đó có phần vốn tài liệu tiếng Trung mới nhập. Đây là nơi nhận lưu chiểu các tài liệu xuất bản ở miền Nam Việt Nam.

Tháng 5 năm 1955, vốn tài liệu gồm 17.000 quyển sách quý, một nửa số sách báo thời thuộc địa và 35.000 tài liệu lưu chiểu của Tổng Thư viện tại Hà Nội được chuyển vào miền Nam, lập thành Tổng Thư viện thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Đến năm 1957, Tổng Thư viện chuyển sang trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục Việt Nam Cộng hòa.

Ngày 13 tháng 4 năm 1959, chính quyền ra quyết định thành lập Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia. Đồng thời, Thư viện Quốc gia (đổi tên từ Thư viện Nam phần trước đó) và Tổng Thư viện được đặt trực thuộc Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia. Thư viện Quốc gia có phòng đọc tại địa chỉ số 34 Gia Long, phòng cho mượn tại số 194D Pasteur; còn Tổng Thư viện thì đặt cơ sở tại trường Pétrus Ký trên đường Trần Bình Trọng. Thư viện Quốc gia và Tổng Thư viện được xem là hai thư viện cấp quốc gia của Việt Nam Cộng hòa, tuy nhiên các cơ sở của hai thư viện này lại chật hẹp, không đáp ứng được tiêu chuẩn của một thư viện quốc gia. Dự án xây dựng tòa nhà Thư viện Quốc gia mới đã được Tổng thống Ngô Đình Diệm khởi động từ năm 1955, tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau nên đã bị hoãn lại. Để có đủ kinh phí xây dựng, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã phải mở đến 4 kỳ xổ số. Đến ngày 28 tháng 12 năm 1968, công trình mới được khởi công xây dựng tại số 69 Gia Long, tức vị trí Khám Lớn Sài Gòn cũ, theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Bùi Quang Hanh và Nguyễn Hữu Thiện.

Ngày 23 tháng 12 năm 1971, trụ sở mới của Thư viện Quốc gia được khánh thành. Công trình cao 16 tầng, chia làm hai khối gần như riêng biệt. Khối thứ nhất là một dãy nhà dài 71 m, ngang 23 m với tầng hầm, tầng trệt, hai lầu và một sân thượng; khối thứ hai nằm giữa, vuông vức và vọt lên như một ngọn tháp, có 14 tầng với chiều cao 43 m dành làm kho chứa sách báo. Tòa nhà mới lúc này đã có thể chứa toàn bộ vốn tài liệu của hai thư viện trước đó. Trong bài phát biểu tại lễ khánh thành, ông Mai Thọ Truyền, Quốc vụ khanh đặc trách Văn hóa, đã gọi nơi đây là "bộ não khổng lồ của quốc gia". Ngoài ra, cũng từ thời điểm này, Nha Văn khố và Thư viện Quốc gia chính thức chia thành hai đơn vị là Nha Văn khố Quốc gia và Thư viện Quốc gia. Để người dân có thể tiếp cận sách tốt hơn, Thư viện Quốc gia đã tổ chức xe thư viện lưu động với 12.000 quyển sách cho người lớn, 6.000 quyển sách thiếu nhi. Thư viện cũng thành lập bộ phận sửa chữa, đóng sách và ứng dụng vi phim để hỗ trợ bảo quản tài liệu.

Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tiếp quản Thư viện Quốc gia. Ngày 1 tháng 11 năm 1976, thư viện được đổi tên thành Thư viện Quốc gia II trực thuộc Bộ Văn hóa. Sau đó thư viện lại được giao cho Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quản lý, đến ngày 14 tháng 4 năm 1978 thì hợp nhất với Thư viện Khoa học Kỹ thuật thành Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh trực thuộc Sở Văn hóa Thông tin (nay là Sở Văn hóa và Thể thao). Bên cạnh đó, sau ngày thống nhất, chính quyền cũng sắp xếp, phân bổ lại tài liệu thư viện hai miền Bắc và Nam.

Theo thống kê năm 2005, số lượng người đăng ký sử dụng thư viện năm sau cao hơn năm trước từ 5–10%, mật độ sử dụng tài liệu trong thư viện tăng 4–5% mỗi năm, tài liệu nhập về thư viện cũng tăng cả về số lượng, thành phần nội dung và hình thức thông tin: sách từ 6000–9000 bản/năm, báo và tạp chí lưu hành hơn 870 nhan đề/năm, và các cơ sở dữ liệu điện tử, trực tuyến khác.

Link tham khảo: 

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C6%B0_vi%E1%BB%87n_Khoa_h%E1%BB%8Dc_T%E1%BB%95ng_h%E1%BB%A3p_Th%C3%A0nh_ph%E1%BB%91_H%E1%BB%93_Ch%C3%AD_Minh

Nhận xét

Xem nhiều nhất

Khu vực kinh Nhiêu Lộc 196

 Saigon 1969 - Không ảnh khu vực kinh Nhiêu Lộc, nhà sửa chữa xe lửa ở giữa ảnh, nhà thờ phía dưới là Tân Chí Linh.

Đi lễ chùa ngày Tết

 Người Miền Nam đi Chùa những ngày Tết 1960s

Nhà thờ Chợ Quán

 Nhà thờ Chợ Quán ngày xưa (hình chưa rõ năm chụp, được phục hồi màu), đây là một nhà thờ hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là cổ nhất thành phố, từng trải qua 8 lần xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử. Tóm tắt lịch sử của nhà thờ  Nhà thờ Chợ Quán (ở 120 Trần Bình Trọng, phường Chợ Quán, TP.HCM) - giáo xứ Chợ Quán, Tổng giáo phận Sài Gòn - khởi nguồn từ một công trình đơn sơ được dựng lên vào năm 1670. Đến khoảng những năm 1720, các linh mục thừa sai bắt đầu xây dựng lại nhà thờ lần đầu tiên bằng vật liệu kiên cố hơn. Trải qua hàng thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ không ít lần bị phá hủy và tái thiết. Phiên bản hiện tại là lần xây thứ 8, được khởi công dưới thời Cha Nicolas Hamm Tài. Năm 1885, ngài mua xe bò, chở đất từ khu vực Bàu Chùa (còn gọi là Bàu Sen) về đắp nền, khởi động công trình với sự hỗ trợ của Cha Charles Boutier Thiết. Tuy nhiên, công trình tạm dừng một thời gian cho đến năm 1887, khi Cha Jules Errard Y về nhận quản nhiệm giáo xứ. Ngài tiếp tục hoàn t...

Đường Cường Để

 Đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng) đoạn Nguyễn Du

Bến xe Petrus Ký

Bến xe Petrus Ký Saigon 1960. Nằm trên đường Petrus Ký, nay là đường Lê Hồng Phong, thuộc Quận 5 và Quận 10. Xe từ bến Petrus Ký tỏa đi khắp miền Nam, từ vĩ tuyến 17 (Cầu Hiền Lương) cho đến tận Cà Mau. Sau năm 1975, bến xe này được đổi tên thành Xa cảng Miền Đông (vào cuối năm 1976) trước khi các bến xe hiện đại được di dời ra vùng ngoại vi. Bến xe Petrus Ký SÀI GÒN những năm 1960. Đây là bến xe liên tỉnh sầm uất, là nơi tập trung của hàng trăm chiếc xe khách đi các tỉnh miền Tây và miền Trung. Trong thập niên 1960, để giải quyết tình trạng lộn xộn của các bến xe nhỏ lẻ trong nội đô, chính quyền đã tập trung nhiều hãng xe về đây. Vào thời điểm này, bến xe Petrus Ký đặc trưng với những dãy xe đò mang màu sắc của các hãng xe tư nhân, các sạp hàng quán vỉa hè và dòng người tấp nập từ các tỉnh đổ về Sài Gòn. TTO - Năm 1940, chính quyền của Pháp ở Sài Gòn đặt tên cho con đường giới hạn bởi đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và đường 11è RIC (nay là đường Trần Phú) là đường...

Sài Gòn năm 1960

 Sài Gòn năm 1960 dưới ống kính người Pháp. Ống kính người Pháp thường bắt trọn những khoảnh khắc đời thường nhất: từ cảnh người dân tấp nập đi chợ buổi sớm, những chiếc xích lô máy lạch bạch trên phố, cho đến hình ảnh trẻ em vui chơi hồn nhiên bên vỉa hè. Nhịp sống Sài Gòn thập niên 1960. đầy ắp những nỗi lo về thời cuộc. Xen lẫn tiếng nhạc xập xình là nhịp sống hối hả của những người lao động, những xe hủ tiếu gõ đêm khuya và âm hưởng của một thành phố không ngủ giữa vòng xoáy lịch sử. Sài Gòn năm 1960 ghi lại qua ống kính người Mỹ. Hình ảnh Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính của những người Mỹ—từ các phóng viên ảnh chuyên nghiệp đến những quân nhân—đã phác họa nên một "Hòn ngọc Viễn Đông" đầy tương phản giữa sự phồn hoa và những góc khuất đời thường. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn những năm 1960 Trước đó, tháng 12/1959, nhà thờ được tôn phong là Vương cung thánh đường (tiểu vương cung thánh đường) và nổi bật với bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình được làm phép đầu năm 1959.  Công trình ma...

Các biển quảng cáo

 Các biển quảng cáo ở phía trước chợ Bến Thành này đã trở thành hình ảnh quen thuộc trong các tấm ảnh Sài Gòn xưa.