Chuyển đến nội dung chính

THÀNH PHỐ SÀI GÒN – KHU KHÁNH HỘI, PHẦN PHÍA NAM KINH TẺ

 THÀNH PHỐ SÀI GÒN – KHU KHÁNH HỘI, PHẦN PHÍA NAM KINH TẺ

Trong tiến trình đô thị hóa và mở rộng hành chính đầu thế kỷ XX, khu vực phía nam kinh Tẻ giữ vị trí quan trọng với lịch sử hình thành không gian địa lý – hành chính của thành phố Sài Gòn và tỉnh Gia Định. Bản đồ hiện trạng khu vực Khu Khánh Hội không chỉ minh chứng cho sự thay đổi địa giới hành chính mà còn là tư liệu quan trọng giúp truy vết tiến trình phát triển không gian đô thị Sài Gòn. Từ đó, việc nghiên cứu các nghị định và quyết định sáp nhập liên quan giúp làm sáng tỏ cơ chế quản lý đất đai, tổ chức hành chính và động lực mở rộng đô thị ở Nam Bộ trong giai đoạn đầu thế kỷ XX.


Nội dung bản đồ thể hiện hiện trạng khu vực phía nam kinh Tẻ, thuộc địa giới thành phố Sài Gòn. Đây là phần diện tích được giới hạn bởi kinh Tẻ ở phía bắc, rạch Ông Đội – rạch Bàng ở phía nam, rạch Ông Lớn ở phía tây. Phần diện tích này được đề xuất sáp nhập vào tỉnh Gia Định, cụ thể là phần phía đông sáp nhập vào làng Tân Thuận Đông và phần phía tây sáp nhập vào làng Tân Quy Đông, đều thuộc tổng Bình Trị Hạ, tỉnh Gia Định.
Quá trình thay đổi diễn ra sau sự kiện sáp nhập làng Khánh Hội vào thành phố Sài Gòn năm 1907 theo Nghị định ngày 16/8/1907, chính quyền tiếp tục mở rộng địa giới thành phố bằng cách sáp nhập một phần đất làng Tân Thuận Đông vào thành phố. Cụ thể, theo Nghị định ngày 01/02/1910, Toàn quyền Đông Dương cho sáp nhập vào thành phố Sài Gòn một khoảnh đất xen cư nằm giữa rạch Bàng Đông và kinh Tẻ (gần cửa kinh này), thuộc làng Tân Thuận Đông, tổng Bình Trị Hạ, tỉnh Gia Định; và một khoảnh đất khác cũng thuộc làng này, nằm đối diện với khoảnh đất vừa nêu, giáp sông Sài Gòn ở phía bắc, kinh Tẻ ở phía tây (trên bờ phải kinh Tẻ), rạch Bàng Đông ở phía nam và một đường ranh giới với làng Tân Thuận Đông ở phía đông.
Đến ngày 05/10/1918, chính quyền thuộc địa ban hành quyết định tách toàn bộ phần đất nằm ở phía nam kinh Tẻ của thành phố Sài Gòn và sáp nhập vào hai làng Tân Thuận Đông và Tân Quy Đông, tổng Bình Trị Hạ, tỉnh Gia Định. Diện tích phần đất tách ra khỏi thành phố Sài Gòn là 1,95 km², diện tích thành phố Sài Gòn phần còn lại là 15,05 km².
Những biến động địa giới hành chính phía nam kinh Tẻ giai đoạn 1907–1918 phản ánh rõ nét cách thức chính quyền thuộc địa điều chỉnh không gian đô thị Sài Gòn nhằm phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – thương mại và kiểm soát dân cư. Việc sáp nhập, rồi sau đó tách ra và sáp nhập trở lại vào các làng thuộc tổng Bình Trị Hạ cho thấy ranh giới hành chính không mang tính cố định mà biến đổi linh hoạt theo nhu cầu khai thác và quản trị đô thị. Tư liệu bản đồ cùng các nghị định hành chính không chỉ có giá trị về mặt địa lý – hành chính mà còn cung cấp cơ sở để nghiên cứu quá trình hình thành các vùng ven đô. Qua đó, có thể thấy rõ tính kế thừa và biến đổi của không gian Sài Gòn – Gia Định, từ một trung tâm hành chính thời Pháp thuộc đến đô thị năng động về sau.
Nguồn : Hồ sơ số 16759, số 16797 phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Nhận xét

Xem nhiều nhất

Đi lễ chùa ngày Tết

 Người Miền Nam đi Chùa những ngày Tết 1960s

Khu vực kinh Nhiêu Lộc 196

 Saigon 1969 - Không ảnh khu vực kinh Nhiêu Lộc, nhà sửa chữa xe lửa ở giữa ảnh, nhà thờ phía dưới là Tân Chí Linh.

Nhà thờ Chợ Quán

 Nhà thờ Chợ Quán ngày xưa (hình chưa rõ năm chụp, được phục hồi màu), đây là một nhà thờ hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là cổ nhất thành phố, từng trải qua 8 lần xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử. Tóm tắt lịch sử của nhà thờ  Nhà thờ Chợ Quán (ở 120 Trần Bình Trọng, phường Chợ Quán, TP.HCM) - giáo xứ Chợ Quán, Tổng giáo phận Sài Gòn - khởi nguồn từ một công trình đơn sơ được dựng lên vào năm 1670. Đến khoảng những năm 1720, các linh mục thừa sai bắt đầu xây dựng lại nhà thờ lần đầu tiên bằng vật liệu kiên cố hơn. Trải qua hàng thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ không ít lần bị phá hủy và tái thiết. Phiên bản hiện tại là lần xây thứ 8, được khởi công dưới thời Cha Nicolas Hamm Tài. Năm 1885, ngài mua xe bò, chở đất từ khu vực Bàu Chùa (còn gọi là Bàu Sen) về đắp nền, khởi động công trình với sự hỗ trợ của Cha Charles Boutier Thiết. Tuy nhiên, công trình tạm dừng một thời gian cho đến năm 1887, khi Cha Jules Errard Y về nhận quản nhiệm giáo xứ. Ngài tiếp tục hoàn t...

Tập đoàn dầu khí Shell

 Shell tại SÀI GÒN những năm 1960. Thập niên 1960 là giai đoạn phát triển rực rỡ và chuyển mình mạnh mẽ của tập đoàn dầu khí Shell, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam (miền Nam) và trên quy mô toàn cầu.

Đức Thượng Công Lê Văn Duyệt và những hình ảnh đẹp của Lăng Ông – Bà Chiểu

  Những người Sài Gòn gốc hầu như không ai không biết đến Lăng Ông – Bà Chiểu ở tỉnh Gia Định xưa. Ngày nay, với dân ngoại tỉnh đến Sài Gòn, nếu đi xе bus ngang qua chợ Bà Chiểu thường được nghе lơ xе hỏi: Có ai xuống Lăng Ông không…? Lăng Ông – Bà Chiểu vốn là nơi này là giao nhau của nhiều tuyến đường nên có rất nhiều trạm xе bus. Đó chính là đoạn đường giao giữa đường Lê Văn Duyệt và đường Chi Lăng, người xưa thường gọi là ngã ba Chi Lăng. Vị trí này còn có các địa điểm quеn thuộc là Bệnh viện Nguyễn Văn Học, Trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn, Tòa Nhà Hành Chánh Tỉnh Gia Định. Ngã 3 Chi Lăng trước năm 1975. Nhà bên phải là Tòa Hành Chính tỉnh Gia Định, nay là UBND quận Bình Thạnh Sau 1975, hầu hết tên các địa điểm này bị thay đổi. Đường Chi Lăng đổi thành tên Phan Đăng Lưu. Đường Lê Văn Duyệt bị xóa tên, nhập chung vô đường Đinh Tiên Hoàng trước đó chỉ dài từ đại lộ Thống Nhứt cho đến Cầu Bông, thì thời gian sau đó đường Đinh Tiên Hoàng nối dài luôn phần đường Lê Văn Duy...

Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc

 Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc tại SÀI GÒN những năm 1960.  có trụ sở tại đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Đóng vai trò là cơ quan chỉ huy và liên lạc cho toàn bộ lực lượng quân sự Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam.  Các đơn vị chiến đấu chính của Hàn Quốc (như Sư đoàn Mãnh Hổ và Sư đoàn Bạch Mã) chủ yếu hoạt động ở Vùng II Chiến thuật, với các căn cứ chính tại Quy Nhơn, Bình Khê và Ninh Hòa. Đơn vị không chiến đấu đầu tiên của Hàn Quốc, "Lực lượng Bồ câu trắng", đến Biên Hòa vào tháng 2 năm 1965.

Bến xe Petrus Ký

Bến xe Petrus Ký Saigon 1960. Nằm trên đường Petrus Ký, nay là đường Lê Hồng Phong, thuộc Quận 5 và Quận 10. Xe từ bến Petrus Ký tỏa đi khắp miền Nam, từ vĩ tuyến 17 (Cầu Hiền Lương) cho đến tận Cà Mau. Sau năm 1975, bến xe này được đổi tên thành Xa cảng Miền Đông (vào cuối năm 1976) trước khi các bến xe hiện đại được di dời ra vùng ngoại vi. Bến xe Petrus Ký SÀI GÒN những năm 1960. Đây là bến xe liên tỉnh sầm uất, là nơi tập trung của hàng trăm chiếc xe khách đi các tỉnh miền Tây và miền Trung. Trong thập niên 1960, để giải quyết tình trạng lộn xộn của các bến xe nhỏ lẻ trong nội đô, chính quyền đã tập trung nhiều hãng xe về đây. Vào thời điểm này, bến xe Petrus Ký đặc trưng với những dãy xe đò mang màu sắc của các hãng xe tư nhân, các sạp hàng quán vỉa hè và dòng người tấp nập từ các tỉnh đổ về Sài Gòn. TTO - Năm 1940, chính quyền của Pháp ở Sài Gòn đặt tên cho con đường giới hạn bởi đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và đường 11è RIC (nay là đường Trần Phú) là đường...