Chuyển đến nội dung chính

Phố cổ Sài Gòn

 Phố cổ Sài Gòn đến năm 1860

Trong tiến trình hình thành và phát triển của vùng đất Nam Bộ, Chợ Lớn đóng vai trò là một trung tâm giao thương mang tính biểu tượng, đại diện cho mô hình cảng thị đặc trưng của người Hoa. Không chỉ là nơi hội tụ của các dòng chảy kinh tế, khu vực này còn ghi dấu ấn đậm nét về quy hoạch đô thị gắn liền với hệ thống sông ngòi chằng chịt. Để hiểu rõ hơn về diện mạo của một cảng thị Chợ Lớn cổ, nguyên là phố cổ Sài Gòn sầm uất trong lịch sử — nơi từng được Trịnh Hoài Đức ca ngợi trong Gia Định thành thông chí — chúng ta cần xem xét chi tiết từ tọa độ địa lý, mạng lưới kinh rạch cho đến cấu trúc đô thị khu vực lõi di sản cách đây hơn 160 năm.

Chợ Lớn là một đô thị thương mại sầm uất và mang đặc trưng của một cảng thị người Hoa, nằm dọc đoạn thượng lưu rạch Bến Nghé, còn gọi là rạch Lò Gốm, đó cũng chính là phố cổ Sài Gòn trong lịch sử được nhiều tư liệu đương thời mô tả. Vị trí địa lý phố Sài Gòn nằm cách phố Bến Nghé khoảng 5km về phía tây nam, có tọa độ địa lý khoảng 10o45’07’’ độ vĩ Bắc, 106o39’36’’ kinh độ Đông. Về mặt tự nhiên, trước khi có phố cổ Sài Gòn thì hệ thống kinh rạch ở đây chưa có sự lưu thông nhiều, đến khi phố Sài Gòn được hình thành và phát triển các kinh rạch lần lượt được đào nối và hình thành một mạng lưới giao thông thủy rất tiện lợi nhằm phục vụ giao thương giữa Sài Gòn và phía tây. Cũng cần biết thêm, sự sai lầm của người Pháp khi gọi phố cổ Bến Nghé là Sài Gòn và phố cổ Sài Gòn là Chợ Lớn, đã làm chúng ta đôi khi bỡ ngỡ khi đọc những tài liệu cổ xưa.

Xét về quy mô thì ở thời điểm giữa đầu thế kỉ XIX, khu vực Sài Gòn có quy mô nhỏ hơn khu vực Bến Nghé nên phố Sài Gòn ở Chợ Lớn nằm trải dài theo rạch Lò Gốm (còn gọi là rạch Chợ Lớn, nay bị san lấp thành các tuyến đường Hải Thượng Lãn Ông-Lê Quang Sung và Bến Phú Lâm) theo phương đông tây, từ ngã ba đoạn giáp với rạch Bến Nghé và kinh Tàu Hủ trở về tây đến giáp rạch Ruột Ngựa (nay là kinh Tân Hóa – Lò Gốm); theo phương nam bắc thì giới hạn tuyến đường thiên lý ở phía bắc đến sông An Thông (nay là kinh Tàu Hủ) ở phía nam. Đến giữa thế kỉ XIX, khu phố chính và sầm uất nhất, tức vùng lõi Chợ Lớn là phố Sài Gòn, nằm từ phía đông giới hạn từ quãng Thất phủ Võ đế miếu (nay là đường Triệu Quang Phục) về hướng tây đến kinh Xếp (nay đã lấp và thành đường Châu Văn Liêm); theo hướng nam bắc từ rạch Lò Gốm (còn gọi là rạch Chợ Lớn) về giáp tuyến đường thiên lý ở phía bắc (nay là đường Nguyễn Trãi), với tổng diện tích khoảng hơn 8ha. Tuy nhiên phần phía đông khu vực này đã rải rác dân cư, tính từ khu vực chợ Xã Tây nối dài với đường Trần Hòa chạy về phía đông đến giáp đường Tản Đà ngày nay. Như vậy, đây chính là vùng lõi phố Sài Gòn của hơn 160 năm trước, là khu vực có kiến trúc và bố trí phố phường thuần Á Đông ở thời điểm đó bởi đậm nét văn hóa người Hoa. Tuy có quy mô nhỏ hơn nhưng xét về độ sầm uất và đông đúc thì phố Sài Gòn lại vượt trội so với phố Bến Nghé ở phía đông. Những điều này được chính Trịnh Hoài Đức mô tả trong Gia Định thành thông chí ở thập niên 20 của thế kỉ XIX.

Vào giữa thế kỷ XIX, ngoài phố Sài Gòn đã nói ở trên, dọc theo bờ rạch Lò Gốm (còn gọi là rạch Chợ Lớn, nay đã bị lấp), rạch Ruột Ngựa (rạch Tân Hóa – Lò Gốm), sông An Thông (rạch Tàu Hủ) đều có các dãy nhà phố xoay lưng vào lòng rạch. Đây là những dạng kiến trúc điển hình ở các phố cảng ở miền Trung và miền Nam thuở đó, mặt tiền nhà quay ra đường mặt hậu quay vào lòng sông rạch để bốc dỡ hàng hóa cho thuận tiện. Các đường phố chính ở trung tâm phố Sài Gòn giai đoạn này bao gồm các tuyến đường được bao quanh khu vực bởi các tuyến Nguyễn Trãi – Châu Văn Liêm – Hải Thượng Lãn Ông – Võ Văn Kiệt – Tản Đà; một phần các tuyến đường Nguyễn Trãi, Châu Văn Liêm (có đến hai tuyến chạy song song và ngăn cách nhau bởi một dãy nhà), Hải Thượng Lãn Ông, Lương Nhữ Học, Triệu Quang Phục, Trần Hưng Đạo, Võ Văn Kiệt; toàn bộ đường Nguyễn Án (nguyên gốc giai đoạn này chạy đến giáp rạch Lò Gốm), đường Lưu Xuân Tín.

Giai đoạn này hệ thống các công trình tôn giáo tín ngưỡng của các cộng đồng Hoa Việt để lại dấu ấn mạnh mẽ tại phố cổ Sài Gòn và xung quanh, với nhiều hội quán, chùa chiền, đền miếu trải dài trên khắp khu vực và còn tồn tại đến tận ngày nay. Trong đó có thể kể đến chùa Cây Mai, chùa Kiển Phước, Thất phủ Võ đế miếu, Thất phủ Thiên hậu cung, Minh Hương Gia Thạnh, Huệ Thành hội quán, Tam Sơn hội quán, Nghĩa An hội quán, Hà Chương hội quán,… cho đến các đình miếu nằm xung quanh như đình Tân Hương, Vĩnh Hội hay Ưu Long,… Đó là những di sản và một phần hồn cốt của các nền văn hóa Hoa-Việt sớm hòa quyện và cùng nhau làm nên một bản sắc Á Đông của thành phố Chợ Lớn về sau thời Pháp thuộc.

Diện mạo của Chợ Lớn hay Sài Gòn cổ vào giữa thế kỷ XIX không chỉ đơn thuần là một khu dân cư đông đúc mà là một chỉnh thể đô thị - thương cảng hoàn chỉnh, nơi kiến trúc Á Đông hòa quyện chặt chẽ với địa hình sông nước. Sự phân bố các dãy nhà phố “mặt hướng lộ, hậu hướng giang” dọc theo rạch Lò Gốm và sông An Thông đã minh chứng cho một nền thương mại thuần Á Đông dựa vào giao thông thủy để phát triển kinh tế. Dù quy mô diện tích có thể khiêm tốn hơn khu vực phố cổ Bến Nghé, nhưng chính sự đông đúc, sầm uất và bản sắc văn hóa riêng biệt đã tạo nên một phố cổ Sài Gòn huyền thoại, đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ của siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay.


Tài liệu tham khảo:

Sách: Đô thị Nam bộ trước năm 1945 (2025), Nxb Thông tin và truyền thông 

Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia II

Lưu ý: Thông tin này chỉ để tham khảo, mọi người cứ thoải mái phản biện, đây là thông tin của trên FB Trung tâm lưu trữ Quốc gia II đưa ra, chưa hẳn là đúng 100% vì giai đoạn lịch sử này khá thiếu thông tin, hoặc có thể có sai sót kỹ thuật gì đó, mọi người phản biện thì đưa ra bằng chứng và phát ngôn lịch sự, tránh dùng lời lẽ nặng nề

Nhận xét

Xem nhiều nhất

Công trường Mê Linh

 Sài Gòn năm 1965, đầu đường Hai Bà Trưng, công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng.

Trường Petrus Trương Vĩnh Ký

 Trường Petrus Trương Vĩnh Ký - Sài Gòn Xưa

Trường Lycée Franco-Chinois

 Trường Lycée Franco-Chinois là ngôi trường được xây dựng thứ hai ở Sài Gòn.  Pháp tấn công vào Sài Gòn năm 1859 đến năm 1865 Chuẩn đô đốc Pháp Pierre Rose ban hành nghị định thành lập thành phố Sài Gòn. Vào ngày 14-11-1874, Thống đốc Nam Kỳ Jules François Emile Krantz đã ký quyết định thành lập một ngôi trường trung học đầu tiên tại Sài Gòn với chương trình giảng dạy y hệt theo chính quốc, từ tiểu học đến tú tài. Ban đầu trường được đặt tên là Collège Indigène (Trung học bản xứ) rồi sau này được đặt tên lại là Collège Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn). Năm 1908 Toàn quyền Đông Dương ông Jean Baptiste Paul Beau cho xây dựng trường Lycée Franco-Chinois. Mãi cho đến năm 1918 Pháp mới xây dựng trường Marie Curie. Thẻ học sinh Lycée Franco-Chinois 1953. Người học sinh này tên Trương Chí Hiền và học classe "El. H." Viết tắt của "Élève Humanités" (Học sinh khối Nhân văn). Trong hệ thống giáo dục cổ điển của Pháp, Humanités (Nhân văn) là chương trình học dành cho lứa tuổi tha...

Nhà việc của xã Linh Chiểu

Linh Chiểu Xã - Cochinchine - Ancienne Maison Commune de Linh Chicû-Xâ  Nhà việc của xã Linh Chiểu, Thủ Đức (như trụ sở UBND ngày nay)

Nhà thờ 3 Chuông thuộc Dòng Đa Minh

  “♱ Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.  Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas. Trường thánh Thomas và Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962. Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08. Toàn cảnh Tu Viện – Đài Đức Mẹ Apollo – Nhà Thờ Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có ...

Đường Tản Đà

 Đường Tản Đà , Chợ Lớn năm 1901...

Đường Paul Blanchy

 Đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) năm 1947, phía xa là nhà thờ Tân Định.