Chuyển đến nội dung chính

Kinh kịch – Tinh hoa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc

 Kinh kịch, hay còn được gọi là Kinh hí, là một loại hình sân khấu đặc sắc mạng đậm nét tinh túy của người Trung Quốc.

Kinh kịch là một loại kịch được lưu truyền rộng rãi và có tầm ảnh hưởng nổi bật nhất của Trung Quốc, với gần 200 năm lịch sử. Trong quá trình hình thành, Kinh kịch vừa thu hút tinh hoa từ nhiều loại kịch địa phương, vừa chịu ảnh hưởng nhiều bởi ngôn ngữ địa phương và phong tục tập quán Bắc Kinh. Tuy Kinh kịch được hình thành tại Bắc Kinh, nhưng không phải là loại kịch đặc trưng riêng của Bắc Kinh mà khắp các địa phương ở đất nước tỷ dân này đều có đoàn kịch biểu diễn Kinh kịch.

Kinh kịch – Tinh hoa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc

 Kinh kịch – Tinh hoa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc. Nguồn: Tân Hoa xã

Bắt đầu từ năm Càn Long thứ 55 của nhà Thanh (1790), bốn đoàn kịch An Huy lớn là Tam Thanh, Tứ Hỷ, Xuân Đài và Hòa Xuân vốn biểu diễn ở miền Nam đã đến Bắc Kinh kết hợp với Hán Kịch đến từ Hồ Bắc để biểu diễn nhân ngày sinh nhật thứ 55 của vua Càn Long. Thông qua sự trao đổi liên tục và tiếp thu tinh hoa của các thể loại kịch khác, nó dần dần hội nhập và phát triển, cuối cùng đến thời vua Đạo Quang, Kinh kịch chính thức được hình thành. Kinh kịch là một loại hình kinh kịch mới, khác biệt với các loại kịch địa phương, khác về cách trình diễn, ngôn ngữ sân khấu và tiết mục. Sau khi hình thành, Kinh kịch bắt đầu phát triển nhanh chóng trong triều đình nhà Thanh cho đến khi Trung Hoa Dân Quốc đạt được sự thịnh vượng chưa từng có. Kể từ đó, trải qua hàng trăm năm phát triển, Kinh kịch vẫn giữ được sức sống nghệ thuật mãnh liệt.

Từ năm 1919 đến năm 1935, các buổi biểu diễn Kinh kịch ở nước ngoài của bậc thầy Kinh kịch Mai Lan Phương đã xóa bỏ thành kiến của phương Tây đối với kịch Trung Quốc và thậm chí cả người Trung Quốc vào thời điểm đó, thúc đẩy sự lan rộng của Kinh kịch Trung Quốc ra nước ngoài và tăng cường trao đổi văn hóa giữa phương Đông và phương Tây. Kinh kịch Trung Quốc, một kỳ quan của nghệ thuật phương Đông, đã gây được tiếng vang trên sân khấu kịch thế giới.

Kinh kịch là một môn nghệ thuật đồng thời phối hợp cả ca, nói, diễn, đấu võ. Ca là hát theo điệu nào đó; nói là đối thoại hoặc độc thoại của các nhân vật; diễn là biểu diễn động tác hoặc biểu lộ tình cảm; đấu võ là biểu diễn võ thuật với hình thức nhảy múa. Mỗi diễn viên cần phải có bốn kỹ năng này thì đặc tính nghệ thuật của Kinh kịch mới có thể phát huy hết tác dụng. Thể hiện và khắc họa tốt hơn các nhân vật khác nhau trong vở kịch.

Trong quá trình phát triển, Kinh kịch đã hình thành một hệ thống động tác biểu diễn mang tính tượng trưng cao. Ví dụ như: Lấy một chiếc mái chèo biểu thị một con thuyền, một chiếc roi ngựa biểu thị một con ngựa, diễn viên không cần đạo cụ gì vẫn có thể biểu diễn những động tác như lên lầu, xuống lầu, mở cửa. Tuy những động tác này hơi khoa trương, nhưng có thể đem lại cảm giác chân thật cho khán giả.

Kinh kịch – Tinh hoa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc
Vai "Đán" trong Kinh kịch là các vai nữ. Nguồn: Sohu.com

Các nhân vật trong Kinh kịch chủ yếu chia thành bốn vai chính: Sinh, Đán, Tịnh, Sửu. “Sinh” chỉ vai nam, tùy theo tuổi tác và thân phận trong các vở kịch mà chia thành lão sinh, tiểu sinh và võ sinh. Trong đó, diễn viên nổi tiếng nhất bao gồm Mã Liên Lương, Chu Tín Phương, Diệp Thịnh Lan, Cái Khiếu Thiên, hình thức Lý Thiếu Xuân... “Đán” tức là các vai nữ, bao gồm thanh y, hoa đán, võ đán, lão đán. Trong đó, diễn viên vai đán nổi tiếng là Mai Lan Phương, Trình Nghiễn Thu, Thượng Tiểu Vân và Tuân Huệ Sinh, đây là bốn vai đán mới nổi trong những năm 20 thế kỷ XX. “Tịnh” tức là vai nam hào sảng, đặc trưng nổi bật là phải vẽ nhiều màu sắc trên mặt, vì vậy còn gọi là “hoa kiểm”, diễn viên nổi tiếng vai hoa kiểm có Cầu Thịnh Nhung, Viên Thế Hải... “Sửu” là vai nam xấu xa hoặc hài hước lanh lợi, diễn viên đóng vai Sửu nổi tiếng có Tiêu Trường Hoa, Mã Phúc Lộc...

Kinh kịch là loại hình nghệ thuật mang những nét gần gũi với cuộc sống. Chứa đựng những hàm ý thâm sâu, khiến người thưởng thức bị cuốn hút. Phần lớn các vở Kinh kịch đều có đời sống và cảm hứng từ các cốt truyện huyền thoại. Như cổ tích, truyền thuyết pha lẫn tính dã sử của tiểu thuyết Trung Quốc cổ điển. Vì vậy xem Kinh kịch cũng là một cách tìm hiểu về lịch sử cũng như văn hóa cổ xưa của đất nước Trung Hoa.

Kinh kịch – Tinh hoa nghệ thuật truyền thống Trung Quốc
Diễn viên được hóa trang tính cách nhân vật mà mình thủ vai. Nguồn: Tân Hoa xã

Nghệ thuật hóa trang trong Kinh kịch rất đặc sắc. Vai “Sinh” và “Đán” phải “vẽ lông mày”, “nâng lông mày” và “vẽ tròng mắt”, vai “Tịnh” và “Sửu” phải vẽ theo kiểm phổ (mặt nạ) của vở kịch, ví dụ như vai trung thành và dũng cảm phải vẽ màu đỏ, vai xảo trá phải vẽ màu trắng. Số màn trong Kinh kịch rất nhiều, nghe nói có tới 3.800 màn. Hiện nay các vở kịch được biểu diễn chủ yếu bao gồm 3 loại: Kịch truyền thống, kịch lịch sử được biên soạn mới và kịch hiện đại.

Vào ngày 16-11-2010, Kinh kịch đã được đưa vào "Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể truyền khẩu đại diện của nhân loại". Kinh kịch đã đi khắp thế giới và trở thành một phương tiện quan trọng để giới thiệu, truyền bá nghệ thuật và văn hóa truyền thống Trung Quốc.

THANH HƯƠNG (Theo Thường thức về văn hóa Trung Quốc; bjo.com.cn)

Một nữ diễn viên với khuôn mặt đã được vẽ xong để đóng kinh kịch của người Hoa tại Chợ Lớn năm 1961 

Jack Garofalo



Nhận xét

Xem nhiều nhất

Công trường Mê Linh

 Sài Gòn năm 1965, đầu đường Hai Bà Trưng, công trường Mê Linh, bến Bạch Đằng.

Trường Petrus Trương Vĩnh Ký

 Trường Petrus Trương Vĩnh Ký - Sài Gòn Xưa

Trường Lycée Franco-Chinois

 Trường Lycée Franco-Chinois là ngôi trường được xây dựng thứ hai ở Sài Gòn.  Pháp tấn công vào Sài Gòn năm 1859 đến năm 1865 Chuẩn đô đốc Pháp Pierre Rose ban hành nghị định thành lập thành phố Sài Gòn. Vào ngày 14-11-1874, Thống đốc Nam Kỳ Jules François Emile Krantz đã ký quyết định thành lập một ngôi trường trung học đầu tiên tại Sài Gòn với chương trình giảng dạy y hệt theo chính quốc, từ tiểu học đến tú tài. Ban đầu trường được đặt tên là Collège Indigène (Trung học bản xứ) rồi sau này được đặt tên lại là Collège Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn). Năm 1908 Toàn quyền Đông Dương ông Jean Baptiste Paul Beau cho xây dựng trường Lycée Franco-Chinois. Mãi cho đến năm 1918 Pháp mới xây dựng trường Marie Curie. Thẻ học sinh Lycée Franco-Chinois 1953. Người học sinh này tên Trương Chí Hiền và học classe "El. H." Viết tắt của "Élève Humanités" (Học sinh khối Nhân văn). Trong hệ thống giáo dục cổ điển của Pháp, Humanités (Nhân văn) là chương trình học dành cho lứa tuổi tha...

Nhà thờ 3 Chuông thuộc Dòng Đa Minh

  “♱ Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.  Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas. Trường thánh Thomas và Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962. Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08. Toàn cảnh Tu Viện – Đài Đức Mẹ Apollo – Nhà Thờ Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có ...

Đường Paul Blanchy

 Đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) năm 1947, phía xa là nhà thờ Tân Định.

Nhà việc của xã Linh Chiểu

Linh Chiểu Xã - Cochinchine - Ancienne Maison Commune de Linh Chicû-Xâ  Nhà việc của xã Linh Chiểu, Thủ Đức (như trụ sở UBND ngày nay)

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh là một thư viện công cộng tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Thư viện hiện trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, được xem là một trong những thư viện lâu đời nhất tại Việt Nam. Vị trí Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ tại số 69 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, Quận 1, nằm trên một khuôn viên bao quanh là bốn tuyến đường Lý Tự Trọng, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực và Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Lịch sử Năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Gustave Ohier cho thành lập Thư viện Tư liệu Chính phủ Nam Kỳ cho hai Hội đồng chiến tranh thường trực ở Nam Kỳ. Năm 1882, thư viện này trở thành thư viện công cộng, là thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, thư viện hoạt động không hiệu quả vì không đủ kinh phí mua sách báo, trả công cho nhân viên. Đến năm 1902, thư viện được đổi tên thành Thư viện Nam Kỳ (tiếng Pháp: Bibliothèque de la Cochinchine), còn gọi là Thư viện Sài Gòn (tiếng Pháp: Bibliothèque de ...