Chuyển đến nội dung chính

Bí ẩn ao cá "trấn mạch" trước Hội Quán Hà Chương

 Bí ẩn ao cá "trấn mạch" trước Hội Quán Hà Chương

Năm 1885, hội quán Hà Chương ở Chợ Lớn từng đào một ao cá ngay trước miếu với mục đích phong thủy 'tụ khí, trấn mạch'. Dấu tích này hé lộ nhiều câu chuyện ít người biết về Hội quán Hà Chương.

Dấu tích cổ hé lộ lịch sử Hội quán Hà Chương

Hội quán Hà Chương hay còn gọi là chùa Bà Hà Chương, thờ chính là Thiên Hậu Thánh Mẫu, nơi sinh hoạt tâm linh quen thuộc của người Hoa ở khu Chợ Lớn.

Theo sách Tự hào di sản văn hóa quận 5, dù được đánh giá đẹp vào bậc nhất, nhì trong vùng nhưng có lẽ chưa ai biết hội quán Hà Chương được xây dựng vào năm nào. Tuy nhiên, trên một liễn đối ở gian thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu có ghi liễn đối được làm vào năm Gia Khánh Kỷ Tỵ tức năm 1809, nhân dịp trùng tu di tích. Điều này cho thấy hội quán đã được hình thành từ trước đó có lẽ là vài chục năm.

Theo ghi chép của Trịnh Quán có tên là Chương Châu, hiện trên vách tường tiền điện còn 2 tấm bia đá lập năm 1848 và 1871 là thời điểm trùng tu hội quán. Trong nội dung bia lập năm 1848, hội quán được gọi là Hà Chương. Bên cạnh chức năng là trụ sở bang hội của người Hoa quê ở phủ Chương Châu, đây còn là nơi thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu, vị nữ thần phù hộ, cứu giúp người đi biển nên thường được gọi là chùa Bà Hà Chương.

Ngoài Thiên Hậu Thánh Mẫu, nơi đây còn thờ Chúa Sinh Nương Nương (tức Kim Hoa Nương Nương, phù hộ việc sinh đẻ và nuôi dạy con cái); Phúc Đức Chính Thần (tức Bổn Đầu Công hay Thổ Thần); Quan Âm Bồ tát (vị Bồ Tát lắng nghe chúng sinh để ra tay cứu giúp); Quan Thánh Đế Quân (tức Quan Công, danh tướng thời Tam Quốc, biểu tượng của các đức tính trung, hiếu, nghĩa, dũng); Ngọc Hoàng Đại Đế (vị chúa tể tối cao ngự ở thiên đình, quyết định vận mệnh của nhân loại) và các thánh thần trong thần thoại Trung Hoa.

Diện tích khuôn viên hội quán khoảng 1500 m2, khoảng sân phía trước rộng khoảng 200 m2. Vào năm 1885, người trong bang hội đã góp tiền làm một ao cá ở bên kia đường, ngay trước hội quán. Bia đá ghi lại sự kiện này và chép rằng mục đích làm hồ cá là để "tụ khí, trấn mạch" cho miếu thờ được linh thiêng.

Mặt bằng kiến trúc hội quán gồm sân trước, tiền điện, thiên tĩnh, trung điện và chính điện, hai bên là hai dãy nhà đông sương và tây sương, vuông góc và nối từ tiền điện đến chính điện tạo thành một công trình khép kín như hình chữ khẩu. Đây là các gian thờ phụ và văn phòng làm việc của ban quản trị.

Giữa các điện thờ và 2 dãy nhà dọc có hành lang thông thương. Vật liệu xây dựng hội quán chủ yếu là gỗ, đá, gạch, ngói. Kỹ thuật tạo dáng và trang trí phần mái mang nét đặc trưng của nhóm người Hoa Phúc Kiến. Mái được lợp ngói ống, điểm mái bằng ngói thanh lưu ly. Lớp mái tiền điện được trang trí công phu hơn cả với tượng người cưỡi long mã vượt qua vòng lửa gắn trên bờ nóc mái.

Ở 2 đầu kìm là tượng rồng trong tư thế gần như dựng thẳng, bên cạnh có con rồng con đang tinh nghịch ngoạm góc đầu kìm. Dọc theo đường bờ nóc gắn tượng rồng, phượng, phù điêu gốm, dây hoa. Trên đầu đao là các mô hình tòa thành với nhiều tiểu tượng thành quách, người, vật. Tất cả được làm bằng gốm hoặc ghép bằng các mảnh gốm nhiều màu sắc lấp lánh, sinh động.

Các gian thờ bố trí đối xứng nhau và bài trí theo cách thức chung của các đền miếu người Hoa trong vùng. Tiền điện là nơi thờ Ngọc Hoàng Đại Đế với án thờ đặt giữa tiền điện, hướng ra cửa.

Mặt trước hương án trang trí phù điêu chạm bong điển tích "Lục quốc phong tướng". Phía trên án thờ Ngọc Hoàng có bức phù điêu cuốn thư hình dơi, chính giữa chạm chữ "Thiên Hậu Cung", hai bên là các chữ "Hà Chương" và "Hội Quán".

Ba tấm bia đá ghi lại sự kiện trùng tu năm 1848, 1871 và việc đào ao năm 1885 gắn trên vách tường góc bên phải. Từ tiền điện có thể theo hành lang bên trái để vào gian thờ Quan Âm Bồ Tát được đặt hướng ra thiên tĩnh. Tượng thờ Quan Âm Bồ Tát được tạo hình đang ngồi trên tòa sen, mặc áo gấm thêu. Phía trên khám thờ có bức hoành phi "Từ hàng phổ độ" (Thuyền từ cứu giúp chúng sinh).

Quan Thánh Đế Quân được thờ ở gian bên phải thiên tĩnh. Tượng Quan Đế thể hiện một dũng tướng ngồi trên ngai, hai bên là tượng Châu Xương và tượng Quan Bình. Phía trên khám thờ treo bức hoành phi "Trung nghĩa thiên thu" (Ngàn đời trung nghĩa).

Dọc trước khám thờ bày một bộ 6 món binh khí bằng gỗ. Ở góc trái có bàn thờ Mã Tướng Quân với tượng Mã Tướng Quân và tượng ngựa Xích Thố, con tuấn mã huyền thoại của Quan Đế.

Bên cạnh gian thờ Quan Đế là gian thờ Tề Thiên Đại Thánh với tượng Tề Thiên Đại Thánh cầm Thiết Bản. Kế tiếp là gian thờ Bao Công, Thái Tuế Gia Gia và Thành Hoàng với 3 tượng thờ đặt trên cùng 1 hương án.

Chếch về phía trái, gần hành lang là tượng Thần Tài cao khoảng 1,6 m, đứng sau một bàn thờ nhỏ. Trung điện có diện tích khá nhỏ, chỉ bày 3 đỉnh hương lớn theo một hàng ngang. Chính điện chiếm diện tích lớn hơn cả và được bài trí trang trọng. Giá chuông và giá trống đặt ở vách phải, sát trung điện. Ba gian thờ phía cuối chính điện được trang trí các bao lam, bình phong gỗ chạm trổ tinh tế, sơn son thếp vàng. Ba khám thờ đều được kê trên bệ cao khoảng 1 m, được chạm trổ đơn giản nhưng có những mô típ độc đáo như tượng kỳ lân ở góc khám thờ Thiên Hậu, tượng Lư Hải cưỡi ếch ở góc khám thờ Chúa Sinh Nương Nương và khám thờ Phúc Đức Chính Thần.

Trước mỗi khám thờ là 2 hương án được đặt song song nhau để bày biện lễ vật cúng tế. Dọc hai bên hương án trước khám thờ Thiên Hậu có 2 bộ binh khí, mỗi bộ gồm 8 loại binh khí được dựng thẳng trên giá gỗ. Khám thờ Thiên Hậu cao hơn 2 m, chạm nhiều lớp bao lam. Tượng Thiên Hậu bằng gỗ, cao khoảng 1 m, ngồi trên ngai.

Trước tượng Thiên Hậu còn có 2 tượng ngọc nữ và tượng Thiên Lý Nhãn, tượng Thuận Phong Nhĩ. Một bài vị chạm hàng chữ Hán "Sắc phong Hộ Quốc Tí Dân Thiên Hậu Nguyên Quân" được đặt trước các pho tượng này.

Hai bên là gian thờ Chúa Sinh Nương Nương và Phúc Đức Chính Thần. Hai khám thờ có kích thước và trang trí giống nhau. Tượng Chúa Sinh Nương Nương và Phúc Đức Chính Thần cũng bằng gỗ cao khoảng 80 cm. Cạnh tượng Chúa Sinh còn có 2 tượng ngọc nữ và một số tượng bà mụ trên tay bồng đứa trẻ.

Các hoành phi, liễn đối độc đáo

Giống như các hội quán, đền miếu khác của người Hoa, Hội quán Hà Chương có khá nhiều hoành phi, liễn đối. Nhiều hoành, liễn do các Hội quán Tuệ Thành, Quỳnh Phủ, Quảng Triệu, Hẹ, Nhị Phủ dâng tặng nhân dịp trùng tu năm 1901. Nội dung hoành phi ca ngợi các thần thánh rất hiển linh, vì nước vì dân, cảm hóa khắp muôn phương, làm cho biển yên sóng lặng, mọi người đều mang ơn. Một số liễn đối sử dụng hai chữ Hà Chương làm chữ đầu của 2 vế đối.

Cặp liễn đối có niên đại xưa nhất được làm vào năm Gia Khánh Kỷ Tỵ (1809) treo ở gian thờ Thiên Hậu. Các liễn đối có nội dung là: "An tứ hải chi ba lan, Nam quốc hàm triêm từ mẫu trạch, Phái cửu thiên chi vũ lộ, Hoa di cộng mộc thánh ân quang". Tức Bốn biển sóng yên, cá nước Nam đều mang ơn từ mẫu, Đầy khắp trời mưa móc, người Hoa cùng đội đức thánh ân.

Hằng năm, ngoài các ngày tết Nguyên đán, tết Đoan ngọ, lễ Vu Lan... hội quán Hà Chương còn có các ngày cúng theo âm lịch khác. Vào những ngày này, không chỉ đông đảo người Phúc Kiến mà còn có rất nhiều người Việt đến tế lễ, bày tỏ lòng thành kính, cùng cầu mong chia sẻ may mắn, hạnh phúc do ơn trên mang đến.

Ngoài giá trị nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc đá, chạm khắc gỗ, hội quán Hà Chương còn thể hiện sự giao lưu văn hóa, sự đoàn kết giữa người Hoa và người Việt trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Hội quán Hà Chương được Bộ Văn hóa và Thông tin công nhận là Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia năm 2001.






Nhận xét

Xem nhiều nhất

Trường Petrus Trương Vĩnh Ký

 Trường Petrus Trương Vĩnh Ký - Sài Gòn Xưa

Trường Lycée Franco-Chinois

 Trường Lycée Franco-Chinois là ngôi trường được xây dựng thứ hai ở Sài Gòn.  Pháp tấn công vào Sài Gòn năm 1859 đến năm 1865 Chuẩn đô đốc Pháp Pierre Rose ban hành nghị định thành lập thành phố Sài Gòn. Vào ngày 14-11-1874, Thống đốc Nam Kỳ Jules François Emile Krantz đã ký quyết định thành lập một ngôi trường trung học đầu tiên tại Sài Gòn với chương trình giảng dạy y hệt theo chính quốc, từ tiểu học đến tú tài. Ban đầu trường được đặt tên là Collège Indigène (Trung học bản xứ) rồi sau này được đặt tên lại là Collège Chasseloup Laubat (Lê Quý Đôn). Năm 1908 Toàn quyền Đông Dương ông Jean Baptiste Paul Beau cho xây dựng trường Lycée Franco-Chinois. Mãi cho đến năm 1918 Pháp mới xây dựng trường Marie Curie. Thẻ học sinh Lycée Franco-Chinois 1953. Người học sinh này tên Trương Chí Hiền và học classe "El. H." Viết tắt của "Élève Humanités" (Học sinh khối Nhân văn). Trong hệ thống giáo dục cổ điển của Pháp, Humanités (Nhân văn) là chương trình học dành cho lứa tuổi tha...

Đường Paul Blanchy

 Đường Paul Blanchy (Hai Bà Trưng) năm 1947, phía xa là nhà thờ Tân Định.

Nhà việc của xã Linh Chiểu

Linh Chiểu Xã - Cochinchine - Ancienne Maison Commune de Linh Chicû-Xâ  Nhà việc của xã Linh Chiểu, Thủ Đức (như trụ sở UBND ngày nay)

Nhà thờ 3 Chuông thuộc Dòng Đa Minh

  “♱ Nhà thờ Ba Chuông”, một tên gọi gần gũi, bình dị nơi cửa miệng dân gian, nhưng đã gợi lên thắc mắc cho nhiều người về nguồn gốc và ý nghĩa lịch sử.  Giáo xứ Đaminh – Ba Chuông ngày nay tọa lạc tại số 190 Lê Văn Sỹ, P.10, Q. Phú Nhuận, do các Linh mục Dòng Đaminh sáng lập. Dòng Đaminh Việt Nam đã đến đây từ năm 1957. Các tu sĩ xây dựng tu viện thánh Albêtô năm 1959 và mở trường trung tiểu học Thánh Thomas. Trường thánh Thomas và Đền Thánh Tử Đạo Hải Dương Sau dịp long trọng mừng “bách chu niên” bốn chân phước Tử Đạo Hải Dương (1861-1961), tu viện đã tiến hành xây dựng một Đền Thánh dâng kính các Ngài, được khánh thành vào ngày 5-10-1962. Ngày 24.06.1967, Đức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình đã ký quyết định chính thức thành lập giáo xứ mới với danh xưng Thánh Đaminh, Đấng sáng lập Dòng của các tu sĩ phục vụ tại đây. Bổn Mạng giáo xứ : Thánh Đaminh, Lễ kính 08.08. Toàn cảnh Tu Viện – Đài Đức Mẹ Apollo – Nhà Thờ Nhà thờ đầu tiên của giáo xứ chính là “Đền Thánh” trên, có ...

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh là một thư viện công cộng tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Thư viện hiện trực thuộc Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, được xem là một trong những thư viện lâu đời nhất tại Việt Nam. Vị trí Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh có địa chỉ tại số 69 đường Lý Tự Trọng, phường Bến Thành, Quận 1, nằm trên một khuôn viên bao quanh là bốn tuyến đường Lý Tự Trọng, Lê Thánh Tôn, Nguyễn Trung Trực và Nam Kỳ Khởi Nghĩa. Lịch sử Năm 1868, Thống đốc Nam Kỳ Gustave Ohier cho thành lập Thư viện Tư liệu Chính phủ Nam Kỳ cho hai Hội đồng chiến tranh thường trực ở Nam Kỳ. Năm 1882, thư viện này trở thành thư viện công cộng, là thư viện công cộng đầu tiên của Việt Nam. Tuy nhiên, thư viện hoạt động không hiệu quả vì không đủ kinh phí mua sách báo, trả công cho nhân viên. Đến năm 1902, thư viện được đổi tên thành Thư viện Nam Kỳ (tiếng Pháp: Bibliothèque de la Cochinchine), còn gọi là Thư viện Sài Gòn (tiếng Pháp: Bibliothèque de ...

Sài Gòn - những vòng xoay ký ức - Kỳ cuối: Ai về ngã ba Chú Ía

TTO - Nếu chọn giao lộ nào là biểu trưng cho sự phát triển năng động của Sài Gòn, tôi sẽ chọn ngã ba Chú Ía mà nay đã mở rộng thành ngã sáu Nguyễn Thái Sơn với cụm cầu vượt bề thế nhất thành phố. Ngã sáu Nguyễn Thái Sơn nay từng là ngã ba Chú Ía xưa - Ảnh: TỰ TRUNG Từ nơi này, tôi nhìn thấy máy bay lên xuống phi trường Tân Sơn Nhất và có thể thong thả ngược xuôi đại lộ mới mở Phạm Văn Đồng rộng thênh thang. Một cửa ngõ huyết mạch của Sài Gòn ... Từ ngã ba Chú Ía đến ngã sáu cửa ngõ Ngày nay, ai cũng có thể nhẹ nhàng xuôi xe từ trung tâm thành phố qua cầu vượt Nguyễn Thái Sơn để sang làng hoa Gò Vấp hay quẹo phải rong chơi miệt Lái Thiêu, Bình Dương.  Tuy nhiên mới cách đây ít năm, giao lộ của các tuyến đường đông đúc Nguyễn Kiệm, Nguyễn Thái Sơn, Bạch Đằng, Phạm Văn Đồng... này từng là nỗi ám ảnh kẹt xe khủng khiếp.  Đó là cảnh ngày ngày đều kẹt dài dọc từ đường Nguyễn Kiệm đến kẹt cứng ở ngã ba Chú Ía, mà thời điểm ấy đã được mở rộng thành ngã sáu. Nỗi khổ này chỉ hết khi các...