Chuyển đến nội dung chính

Dinh thự đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn

Các tài liệu lưu trữ về Dinh gỗ - dinh thự đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn đang được lưu trữ, bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

    Trong thời gian hai năm đầu xâm chiếm Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc Rigault de Genouilly(1) và Phó Đô đốc Charner làm việc trên các soái hạm. Ngày 25/2/1861, Phó Đô đốc Charner hạ được đại đồn Chí Hòa, đã rời soái hạm để đặt hành dinh trên đất liền tại trại binh Đồn Đất (xây đắp trên vị trí của thành Phụng cũ). Trụ sở chính thức đầu tiên của người Pháp nằm trên một phần bên phải của đường Impériale (sau đổi tên thành đường Paul-Blanchy, nay là đường Hai Bà Trưng). Đó là căn nhà lợp lá, được xây ngay giữa một lùm cây cọ và măng cụt. Tổng diện tích của căn nhà là 120m2 (dài 15m và rộng 8m), có thêm một khoảng hiên bao quanh căn nhà, diện tích sử dụng trong nhà có chiều dài 13m và chiều rộng 6m. Cái khó ở đây là phải kiếm được những viên gạch bản địa hình vuông đã nung để lát phần nền đất đã được nện phẳng và xây các vách ngăn (có chiều cao bằng 2/3 chiều cao tòa nhà). Loại gạch này có đặc tính rất cứng chắc, được liên kết với nhau bằng hỗn hợp vữa trong đó có cho thêm cả đường nâu. Sự pha trộn này có đặc điểm là cứng dần theo thời gian, tạo thành những khối bất khả xâm phạm. Nhà chia ra phòng ngủ, phòng ăn và phòng làm việc, những căn phòng này hầu như đã chiếm gần hết diện tích căn nhà (2).

    Dinh Gỗ tại Trường Taberd (3):

    Sau khi đến Nam Kỳ, Chuẩn Đô đốc Louis Adolphe Bonard đã nhanh chóng xúc tiến cho xây dựng nơi ở và làm việc trên đất liền, đội kỹ thuật Hải quân đã sẵn sàng cho việc xây dựng. Vì ngân sách lúc bấy giờ còn hạn chế, họ đã quyết định xây dựng một dinh thự tạm thời, việc xây dựng một công trình như vậy vừa phù hợp với nguồn ngân sách, vừa có thể dễ dàng thay thế bằng một công trình kiến trúc hoành tráng hơn ở thời gian sau.

 

Dinh Thống đốc Nam Kỳ (1862 -1872). Nguồn: Illustration 1865 - Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

 

    Tháng 12/1861, một tòa nhà bằng gỗ tháo rời được nhập khẩu từ Singapore và được tiến hành lắp ráp tại địa điểm cuối đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi, trong khuôn viên trường chuyên Trần Đại Nghĩa hiện nay), đây được xem là dinh thự đầu tiên của Thống đốc Nam Kỳ ở Sài Gòn. Ngôi nhà này gồm một phòng ngủ, một văn phòng làm việc, phòng họp, hội trường sự kiện với sức chứa lên đến khoảng 600 khách (nơi tổ chức hội nghị hoặc các sự kiện), một chuồng ngựa và một trang trại nhỏ để nuôi gà và lợn (4).

    Học giả Bouchot trong cuốn La Naissance et les Premières années de Saigon cho biết về Dinh Gỗ như sau:

    “Chuẩn Đô đốc Bonard đến ở khu vực này, ngay tại nơi mà Thiếu tá Ariès đã chọn. Ông đã lệnh cho xây một ngôi nhà bằng gỗ với 3 phòng liền kề nhau được mua tại Singapore và nó đã làm nên những ngày rất đẹp của các Thống đốc nối tiếp nhau cho đến năm 1873, ngày xuất hiện Dinh thự mới tại Đại lộ Norodom(5).

    Đối với ngôi nhà, ngày nay rất khiêm tốn, nhưng lại rất lộng lẫy thời đó, Chuẩn Đô đốc rất hài lòng; Ông đã miêu tả bằng những lời đẹp đẽ, trong những lá thư gửi cho bạn bè; ông đã nhờ các họa sĩ gần chỗ ông vẽ và bổ sung thêm vài chi tiết đáng yêu và mặc dù tòa nhà quá nhỏ để làm được nhiều phòng hoặc đồ nội thất quá sơ sài, nhưng ông lại thích trang hoàng cho ngôi nhà ở Sài Gòn của mình. Cái còn lại mà ông thích, đó là phòng lễ hội, phòng này có thể chứa được 600 người (6). Phòng này, ông cho dựng gần với nhà của ông, để cho phép quân đội của ông thưởng thức trò tiêu khiển lành mạnh và hợp sở thích trong thời gian họ nghỉ ngơi.

 

Phòng khách Dinh Thống đốc (1862-1872). Nguồn: Illustration du 13 juin 1863- Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

 

    Phòng khách có các đồ dùng vừa theo kiểu hoàng cung và vừa theo kiểu ở thuộc địa và được trang trí thêm 3 bức tranh: tranh của Hoàng đế Napoléon và Hoàng hậu Eugénie và ở giữa là Hoàng tử Louis Napoléon. Các linh mục ở trường Công giáo (trường Taberd) hiện đã dùng tòa nhà cũ này của Thống đốc. Chuồng ngựa nằm ven đường Paul-Blanchy(7) (nay là đường Hai Bà Trưng), tại nơi mà các giáo viên ngồi lại dùng bữa”(8).

Phòng biểu diễn, hòa nhạc của Dinh Thống đốc Nam Kỳ (1862-1872). Nguồn: Illustration du 13 juin 1863 - Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

 

    Buổi lễ tại Dinh Gỗ được miêu tả như sau:

    “Chúng tôi lần lượt đến xem 2 buổi biểu diễn tại Dinh Thống đốc. Buổi thứ nhất bao gồm: vở diễn của người Pháp, vở của người An Nam, vở của quân đội, chưa tính đến thời gian giải lao. Trong số khán giả có một ông Phủ, 1 ông Huyện người An Nam, được tuyên dương vì sự thông minh của mình và Bang trưởng 7 bang người Hoa. Phòng diễn là một nhà kho tuyệt vời, dùng làm nơi trình diễn cho chính phủ xem. Nó được trang trí từng chùm cờ của các quốc gia. Dọc theo các cột, là các ngọn đèn lồng và phía đầu ở trên cao là chân dung Hoàng đế, Hoàng hậu và Hoàng tử, vừa mới được Bộ trưởng Bộ Hải quân gửi sang. Đó là một thành quả quan trọn”(9).

 

Phòng vũ hội của Dinh Thống đốc Nam Kỳ. Nguồn: Illustration du 4 janvier 1868 - Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

 

    Cuối tháng 6/1863, trước khi đi Pháp mong chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, sứ bộ Phan Thanh Giản được Chuẩn Đô đốc La Grandière đãi tiệc mừng tại đây. Phó sứ Phạm Phú Thứ mô tả về Dinh Thống đốc lúc này như sau: “Khi tới Soái phủ, thấy có bốn lớp nhà chạy ngang, mỗi cái 9 gian 8 cửa. Lớp thứ nhất, gian giữa là lối đi vào từng trong bốn gian ở phía Tây làm phòng chủ Soái, bốn gian phía Đông là phòng làm việc. Dãy nhà thứ hai, đặt làm phòng khách, trên tường phía Tây treo hai bức hình khung kính, bên phải là hình Quốc trưởng, bên trái hình Hoàng hậu, khoảng giữa treo bức nhỏ hơn là hình con trai Quốc trưởng. Phía Đông hai gian số 6 và số 7 là phòng ngồi chơi, sau vách là phòng âm nhạc. Phòng nào cũng được quét sơn coi rất bóng lộng. Vào đến lớp nhà thứ ba, tức là nơi để tiếp tân, khoảng giữa đặt một bàn ăn, bên Đông một bàn trà, sát vách có bàn để các thứ dao, thìa, ly, tách. Vào lớp thứ tư là nhà bếp, sau cùng có chuồng ngựa và chuồng nuôi gà, heo… Hai bên đều xây tường gạch, mặt trước lát bằng ván gỗ sơn xanh, hai cửa ra vào đều có lính gác, cứ đổi phiên nhau, mỗi lượt hai người bồng súng đứng đối diện nhau”(10).

    Ngoài chức năng của một Soái phủ, Dinh Gỗ cũng là nơi tổ chức các sự kiện, các buổi tiệc, các buổi hòa nhạc để đáp ứng nhu cầu hưởng thụ của các sĩ quan viễn chinh Pháp. Ngoài ra, Dinh Gỗ cũng được sử dụng với chức năng là một nơi sinh hoạt tôn giáo, một nhà thờ Ki-tô giáo để tổ chức các lễ nghi cho các tín đồ. Đến năm 1870, dinh thự bằng gỗ này bắt đầu xuống cấp, một số bộ phận bắt đầu bị mối mọt. Năm 1873, sau khi Thống đốc Nam Kỳ chuyển sang làm việc tại Dinh Thống đốc mới (Dinh Norodom), Dinh Gỗ được giao lại cho Hội truyền giáo nước ngoài Paris (Société des Missions Étrangères de Paris - MEP). Linh mục Henri de Kerlan biến chúng thành trường Taberd (nay là trường Trần Đại Nghĩa). Khi đang giữ chức chánh xứ của giáo xứ Sài Gòn, Linh mục Henri de Kerlan thường thấy đau lòng vì gặp phải một số bé trai lang thang trên đường phố và mang trong người hai dòng máu Việt - Pháp. Chúng là những đứa trẻ lạc loài, bên lề xã hội và Linh mục thấy cần phải nghĩ ra cách tập hợp chúng lại, dạy dỗ giáo dục chúng. Ngôi nhà có gác này trước đó là nơi ở và làm việc của các Đô đốc - Thống đốc Nam Kỳ, nay trở thành nhà xứ. Linh mục Henri de Kerlan đã cải tạo lại Dinh Gỗ cho phù hợp với mục đích sử dụng mới. Phòng tiếp khách rộng lớn trở thành ngôi nhà nguyện, nhà ăn thành phòng áo lễ và ủi đồ, nơi bảo quản các vật dụng cần cho việc tiến hành thánh lễ. Còn các ngôi nhà phụ khác chung quanh như nhà bếp, nhà kho, nơi trú ngụ của lính thủy phải canh gác... được sử dụng làm nơi tập hợp và dạy dỗ các trẻ lai lang thang bụi đời. Với hai mươi ngàn quan Pháp từ nguồn tài chính của gia đình, Linh mục Henri de Kerlan bắt tay vào việc sửa sang lại các phòng ốc và tổ chức Dinh Gỗ thành một ngôi trường nội trú. Sau khi Linh mục Henri de Kerlan qua đời (1877), trường Taberd thuộc quyền sở hữu của Nhà Chung và các Cha thừa sai. Đồng thời, với nguồn kinh phí dồi dào hơn, các linh mục dần cải tạo trường Taberd thành một ngôi trường thực thụ và khang trang hơn.

    Như vậy, có thể thấy dinh thự bằng gỗ là một kiến trúc điển hình của thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ. Với quy mô và kiểu dáng độc đáo và tọa lạc tại vị trí trung tâm, dinh thự này nổi bật trong khung cảnh kiến trúc các ngôi nhà gạch được xây dựng trong thành phố. Đồng thời, thu hút được sự chú ý của tất cả những người đặt chân đến thành phố Sài Gòn trong thời kì này.

Chú thích:
1/ Chuẩn đô đốc Pierre-Louis-Charles Rigault de Genouilly (12-4-1807 – 4-5-1873) là một sĩ quan hải quân Pháp. Ông tham gia trong lực lượng hải quân Pháp trong các cuộc chiến tranh Crimée (1853-1856) và Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai (1856-1860). Chuẩn Đô đốc Charles Rigault de Genouilly cũng là một trong các chỉ huy chủ chốt của lực lượng quân đội Pháp tiến hành xâm lược ở Nam Kỳ Việt Nam giai đoạn 1858-1862.
2/ TẬP SAN của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, Coup d’oeil sur la Géographie de Saigon. Sài Gòn, 1927, (Série mới. Tập 2. Số 2)
3/ Trường được gọi theo tên của Jean-Louis Taberd, Giám mục địa phận Nam Kỳ từ 1830 đến 1840. Nay là trường Chuyên Trần Đại Nghĩa
4/ Trích dịch từ : "Iconographie historique de l'Indochine française" (1931) của Paul Boudet và André Masson.
5/ Theo tác giả, tên gọi Dinh Norodom có lẽ xuất phát từ đây.
6/ Nội dung lá thư Chuẩn đô đốc Bonard đã gửi và công bố trên họa báo (Illustration) ngày 13-6-1863: « Rigault thân mến, tôi gửi ông bản vẽ phòng khách của tôi và bản vẽ phòng giải trí của quân đội có thể chứa được 600 người, mà tôi vừa cho người xây ở Sài Gòn, để cho quân đội của tôi bớt buồn».
7/ Nay là đường Hai Bà Trưng, quận 1
8/ René Despierres, En flanant à travers Saigon, p 4.
9/ René Despierres, En flanant à travers Saigon, Sđd, p 4.
10/ Phạm Phú Thứ, Tây hành nhật ký (Tô Nam Nguyễn Đình Diệm và Văn Vinh dịch), Tập san Văn Đàn, bộ 1 số 34 - 35, tr 28, Sài Gòn 1961.

Trần Thị Vui (Trung tâm Lưu trữ quốc gia II0

Nhận xét

Xem nhiều nhất

Ảnh Cầu Chà Và năm 1985

Cầu Chà Và là cái cầu đúc nối Chợ Lớn và Xóm Củi do hãng Lavelois Perret xây dựng năm 1931 bằng bê tông cốt sắt Mé bên Bến Bình Đông, Xóm Củi có nhiều cửa hàng tơ lụa của Chà Ấn Độ bán nên cầu có tên là Chà Và Ban sơ cầu có 2 cái vòm vuông vức, sau 1982 bị đập bỏ cái vòm, nhưng còn 4 cái trụ. Những năm 1988 tui về Sài Gòn qua đây còn thấy cầu cũ, kẹt xe kinh khủng Năm 1993 người ta mở rộng thêm hai bên cầu mỗi bên 5 mét làm lane cho xe Honda Năm 2012 làm đại lộ đông – tây, bỏ cầu Chà Và cũ xây mới như ngày nay. Ít ai biết cầu Chà Và là một đoạn kinh Vạn Kiếp tức Kinh Lấp,kinh này nối Rạch Chợ Lớn qua Kinh Tàu Hủ vào Rạch Xóm Củi ,sau con kinh này bị lấp làm đường Vạn Kiếp hai đầu cầu Chà Và Rạch Chợ Lớn bên quận 5 sau cũng bị lấp làm đường Khổng Tử (Hải Thượng Lãn Ông) Ngày nay đường Vạn Kiếp nằm lọt thỏm trong hai cái dốc cầu Chà Và, một dốc mé quận 8 có Prudential, một dốc có cái chúng cư cũ xì bên quận 5 chuyên bán ốc vít Cầu Chà Và năm 1955

Đi lễ chùa ngày Tết

 Người Miền Nam đi Chùa những ngày Tết 1960s

Đường tàu Sài Gòn

Khu ổ chuột ven đường tàu Sài Gòn. Ảnh: Patrice Habans. Một hình ảnh khó quên về cuộc sống trên đường tàu. Ảnh: Patrice Habans.

Nhà thờ Chợ Quán

 Nhà thờ Chợ Quán ngày xưa (hình chưa rõ năm chụp, được phục hồi màu), đây là một nhà thờ hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là cổ nhất thành phố, từng trải qua 8 lần xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử. Tóm tắt lịch sử của nhà thờ  Nhà thờ Chợ Quán (ở 120 Trần Bình Trọng, phường Chợ Quán, TP.HCM) - giáo xứ Chợ Quán, Tổng giáo phận Sài Gòn - khởi nguồn từ một công trình đơn sơ được dựng lên vào năm 1670. Đến khoảng những năm 1720, các linh mục thừa sai bắt đầu xây dựng lại nhà thờ lần đầu tiên bằng vật liệu kiên cố hơn. Trải qua hàng thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ không ít lần bị phá hủy và tái thiết. Phiên bản hiện tại là lần xây thứ 8, được khởi công dưới thời Cha Nicolas Hamm Tài. Năm 1885, ngài mua xe bò, chở đất từ khu vực Bàu Chùa (còn gọi là Bàu Sen) về đắp nền, khởi động công trình với sự hỗ trợ của Cha Charles Boutier Thiết. Tuy nhiên, công trình tạm dừng một thời gian cho đến năm 1887, khi Cha Jules Errard Y về nhận quản nhiệm giáo xứ. Ngài tiếp tục hoàn t...

Giáng Sinh Sài Gòn xưa

Mùa đông chạm cửa Sài Gòn, khi những hàng me hàng phượng bắt đầu trút lá trơ thân gầy. Mùa đông ở Sài Gòn thường đến rất nhanh và đi cũng rất vội. Nó tuy là thời khắc hoài niệm, lãng mạn nhưng lại rất hợp với tốc độ sống nhanh của thành phố này. Nếu ai không kịp đón lấy mùa đông ấy và tận hưởng nhanh chóng, khi cái lạnh bất ngờ qua đi lòng lại tiếc ngẩn tiếc ngơ. Sài Gòn lạnh là cơ hội cho những chiếc áo dài, quần tất hoặc khăn quàng hay mũ len được đưa ra chưng diện và mặc đi làm hay đi ra phố. Ngày thường nhiều cô gái áo sát nách hay váy ngắn tung tăng ngoài phố. Thế nhưng mấy hôm nay, cả các chàng trai mạnh mẽ mỗi ngày cũng trở nên điệu đà khi quàng một chiếc khăn len đi làm hoặc mặc một chiếc áo khoác bên ngoài, đứng xỏ tay túi áo, xuýt xoa hút thuốc lá ở một góc vắng, như cố xua đi cái lạnh dễ thương từ hơi khói của thuốc. Đó có lẽ là những hình ảnh ấn tượng về một mùa đông ngắn ngủi ở Sài Gòn. Nhưng mùa đông rõ rệt nhất, là khi những ngón tay chàng trai cô gái đan lấy nhau, dịu d...

Tập đoàn dầu khí Shell

 Shell tại SÀI GÒN những năm 1960. Thập niên 1960 là giai đoạn phát triển rực rỡ và chuyển mình mạnh mẽ của tập đoàn dầu khí Shell, đặc biệt là tại thị trường Việt Nam (miền Nam) và trên quy mô toàn cầu.

Chân dung phụ nữ Việt Nam hơn 100 năm trước

 Bộ ảnh: Chân dung phụ nữ Việt Nam hơn 100 năm trước (1915) Mời các bạn xem lại những hình ảnh chụp phụ nữ Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ 20 (năm 1915 tại Hà Nội). Đây là bộ ảnh màu nguyên bản, được xem là những tấm ảnh có màu đầu tiên chụp phong cảnh và con người ở Việt Nam (không phải là ảnh phục chế màu). Ngoài hình ảnh phụ nữ Việt Nam, phần dưới cùng của bài viết này là những tấm ảnh chụp phụ nữ phương Tây sinh sống ở Hà Nội thời điểm đó. Tác giả bộ ảnh là Léon Busy, người được gửi tới Đông Dương năm 1915 để chụp lại hàng ngàn tấm ảnh ở Việt Nam trong dự án đồ sộ mang tên là “kho lưu trữ hành tinh” (tiếng Pháp là Les Archives de la Planète) do một ông chủ nhà băng người Pháp là Albert Kahn sáng lập. Với hơn 72.000 tấm ảnh và thước phim được thực hiện tại hơn 50 nước, cho đến nay Les Archives de la Planète vẫn là kho tư liệu vô giá có giá trị lớn với toàn thế giới, trong đó có Việt Nam, giúp chúng ta nhìn thấy được cảnh vật và con người Việt xưa. Đó là thời kỳ việc hiện đại hoá (Tâ...