Chuyển đến nội dung chính

Kiến trúc Dinh Độc Lập

Các quy định về kiến trúc xung quanh Dinh Độc Lập (1961–1966)

Dinh Độc Lập là một công trình tiêu biểu do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế, khởi công từ năm 1962. Nhằm bảo vệ cảnh quan, bảo đảm an ninh cũng như tầm nhìn biểu tượng của khu vực xung quanh Dinh, trong giai đoạn 1961–1966, chính quyền Sài Gòn đã ban hành nhiều quy định liên quan đến chiều cao, loại hình công trình và phạm vi xây dựng. Những quy định này phản ánh rõ tư duy quy hoạch đô thị gắn liền với yếu tố chính trị – thẩm mỹ trong bối cảnh lịch sử đặc thù.



Trong cuộc họp ngày 23/4/1965 tại Nha Đổng lý – Văn phòng Bộ Giao thông Công chánh, Ủy hội Quốc gia Bảo vệ Thắng cảnh và Di tích đã đề ra các quy định cụ thể về chiều cao, đặc điểm và giới hạn xây dựng đối với các công trình kiến trúc xung quanh Dinh Độc Lập.

Trước năm 1963, chưa có quy chuẩn thống nhất về giới hạn chiều cao công trình, tuy nhiên, một khẩu lệnh không chính thức đã giới hạn chiều cao tối đa là 15 mét. Kể từ sau ngày 01/01/1963, nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở, nhiều chung cư cao tầng được xây dựng, trong đó có công trình cao đến 37,2 mét như khách sạn Caravelle.

Sau khi thảo luận, các đại biểu đã thống nhất các nguyên tắc chính như sau:

Chiều cao tối đa của công trình kiến trúc trong khu vực giới hạn là 15 mét.

Phạm vi áp dụng giới hạn chiều cao là dải đất rộng 50 mét tính từ mép đường đối diện hàng rào Dinh Độc Lập, tức là lùi vào 50 mét từ lộ giới các tuyến đường: Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm (nay là Trương Định) và Hồng Thập Tự (nay là Nguyễn Thị Minh Khai).

Cụ thể:

Phía trước Dinh Độc Lập: một phần đường Thống Nhất (nay là Lê Duẩn) cùng các đường Alexandre de Rhodes và Hàn Thuyên từ cổng Dinh đến ngã tư Hai Bà Trưng.

Phía sau Dinh: từ giao điểm Trương Công Định (Trương Định) – Nguyễn Du đến giao điểm Hồng Thập Tự – Đoàn Thị Điểm.

Phía trái Dinh: đoạn Nguyễn Du từ giao điểm Trương Công Định đến Hai Bà Trưng.

Phía phải Dinh: đoạn Hồng Thập Tự từ Đoàn Thị Điểm đến Hai Bà Trưng.

Các loại hình công trình được phép xây dựng trong phạm vi giới hạn gồm: biệt thự, khách sạn hạng đặc biệt, chung cư loại A hoặc trụ sở doanh nghiệp lớn.

Ngoài phạm vi giới hạn 50 mét, các công trình có thể vượt quá 15 mét nhưng vẫn phải tuân thủ các quy định hiện hành về khoảng cách, diện tích và tiêu chuẩn xây dựng.

Các quy định kiến trúc này cho thấy nỗ lực của chính quyền trong việc lồng ghép yêu cầu về thẩm mỹ, an ninh và chính trị vào quy hoạch không gian đô thị xung quanh Dinh Độc Lập – một biểu tượng quyền lực trung tâm của Đô thành Sài Gòn thời kỳ đó.

Nguồn: Hồ sơ số 7994 – Hồ sơ về địa dịch các kiến trúc quanh Dinh Độc Lập giai đoạn 1961–1966, Phông Bộ Công chánh và Giao thông, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II.

Nhận xét

Xem nhiều nhất

Khu vực kinh Nhiêu Lộc 196

 Saigon 1969 - Không ảnh khu vực kinh Nhiêu Lộc, nhà sửa chữa xe lửa ở giữa ảnh, nhà thờ phía dưới là Tân Chí Linh.

Đi lễ chùa ngày Tết

 Người Miền Nam đi Chùa những ngày Tết 1960s

Nhà thờ Chợ Quán

 Nhà thờ Chợ Quán ngày xưa (hình chưa rõ năm chụp, được phục hồi màu), đây là một nhà thờ hơn 300 năm tuổi, được mệnh danh là cổ nhất thành phố, từng trải qua 8 lần xây dựng trong suốt chiều dài lịch sử. Tóm tắt lịch sử của nhà thờ  Nhà thờ Chợ Quán (ở 120 Trần Bình Trọng, phường Chợ Quán, TP.HCM) - giáo xứ Chợ Quán, Tổng giáo phận Sài Gòn - khởi nguồn từ một công trình đơn sơ được dựng lên vào năm 1670. Đến khoảng những năm 1720, các linh mục thừa sai bắt đầu xây dựng lại nhà thờ lần đầu tiên bằng vật liệu kiên cố hơn. Trải qua hàng thế kỷ với nhiều biến cố lịch sử, nhà thờ không ít lần bị phá hủy và tái thiết. Phiên bản hiện tại là lần xây thứ 8, được khởi công dưới thời Cha Nicolas Hamm Tài. Năm 1885, ngài mua xe bò, chở đất từ khu vực Bàu Chùa (còn gọi là Bàu Sen) về đắp nền, khởi động công trình với sự hỗ trợ của Cha Charles Boutier Thiết. Tuy nhiên, công trình tạm dừng một thời gian cho đến năm 1887, khi Cha Jules Errard Y về nhận quản nhiệm giáo xứ. Ngài tiếp tục hoàn t...

Đường Cường Để

 Đường Cường Để (nay là Tôn Đức Thắng) đoạn Nguyễn Du

Bến xe Petrus Ký

Bến xe Petrus Ký Saigon 1960. Nằm trên đường Petrus Ký, nay là đường Lê Hồng Phong, thuộc Quận 5 và Quận 10. Xe từ bến Petrus Ký tỏa đi khắp miền Nam, từ vĩ tuyến 17 (Cầu Hiền Lương) cho đến tận Cà Mau. Sau năm 1975, bến xe này được đổi tên thành Xa cảng Miền Đông (vào cuối năm 1976) trước khi các bến xe hiện đại được di dời ra vùng ngoại vi. Bến xe Petrus Ký SÀI GÒN những năm 1960. Đây là bến xe liên tỉnh sầm uất, là nơi tập trung của hàng trăm chiếc xe khách đi các tỉnh miền Tây và miền Trung. Trong thập niên 1960, để giải quyết tình trạng lộn xộn của các bến xe nhỏ lẻ trong nội đô, chính quyền đã tập trung nhiều hãng xe về đây. Vào thời điểm này, bến xe Petrus Ký đặc trưng với những dãy xe đò mang màu sắc của các hãng xe tư nhân, các sạp hàng quán vỉa hè và dòng người tấp nập từ các tỉnh đổ về Sài Gòn. TTO - Năm 1940, chính quyền của Pháp ở Sài Gòn đặt tên cho con đường giới hạn bởi đường Galliéni (nay là đường Trần Hưng Đạo) và đường 11è RIC (nay là đường Trần Phú) là đường...

Sài Gòn năm 1960

 Sài Gòn năm 1960 dưới ống kính người Pháp. Ống kính người Pháp thường bắt trọn những khoảnh khắc đời thường nhất: từ cảnh người dân tấp nập đi chợ buổi sớm, những chiếc xích lô máy lạch bạch trên phố, cho đến hình ảnh trẻ em vui chơi hồn nhiên bên vỉa hè. Nhịp sống Sài Gòn thập niên 1960. đầy ắp những nỗi lo về thời cuộc. Xen lẫn tiếng nhạc xập xình là nhịp sống hối hả của những người lao động, những xe hủ tiếu gõ đêm khuya và âm hưởng của một thành phố không ngủ giữa vòng xoáy lịch sử. Sài Gòn năm 1960 ghi lại qua ống kính người Mỹ. Hình ảnh Sài Gòn những năm 1960 qua ống kính của những người Mỹ—từ các phóng viên ảnh chuyên nghiệp đến những quân nhân—đã phác họa nên một "Hòn ngọc Viễn Đông" đầy tương phản giữa sự phồn hoa và những góc khuất đời thường. Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn những năm 1960 Trước đó, tháng 12/1959, nhà thờ được tôn phong là Vương cung thánh đường (tiểu vương cung thánh đường) và nổi bật với bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình được làm phép đầu năm 1959.  Công trình ma...

Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc

 Bộ Tư lệnh Lực lượng Hàn Quốc tại SÀI GÒN những năm 1960.  có trụ sở tại đường Trần Hưng Đạo, Sài Gòn. Đóng vai trò là cơ quan chỉ huy và liên lạc cho toàn bộ lực lượng quân sự Hàn Quốc tham chiến tại Việt Nam.  Các đơn vị chiến đấu chính của Hàn Quốc (như Sư đoàn Mãnh Hổ và Sư đoàn Bạch Mã) chủ yếu hoạt động ở Vùng II Chiến thuật, với các căn cứ chính tại Quy Nhơn, Bình Khê và Ninh Hòa. Đơn vị không chiến đấu đầu tiên của Hàn Quốc, "Lực lượng Bồ câu trắng", đến Biên Hòa vào tháng 2 năm 1965.