Giống như Max Beerbohm, Thurber cũng là tay hí họa có tài, và những minh họa điểm xuyết cho các sách của ông khiến người đọc nghĩ tới cái không khí hơi kỳ quái, siêu thực, chán phèo, bị đàn bà ngự trị mà nhiều người gọi là “sặc mùi Thurber.” Ông có khả năng kỳ lạ trong việc đưa mọi hình thức văn viết vào cuộc sống hiện đại, từ bảng câu hỏi thăm dò đến loại sách dạy người ta tự làm chuyện này chuyện kia, và châm biếm chúng trong vòng vài trang. Tựa của bài viết sau đây “Cuộc sống bí mật của James Thurber” cũng nhại giễu những tự truyện của những nhân vật tên tuổi và truyện ngắn nổi tiếng của ông “Cuộc sống bí mật của Walter Mitty,” vốn bày ra khoảng cách giữa cuộc sống đầy tưởng tượng của một người bình thường với thực tế nhàm chán. Như được cho thấy ở đây, tính hài hước của Thurber một phần là ở tình huống và một phần là ở ngôn ngữ: những câu văn của ông có một độ chóng mặt quay cuồng.
CUỘC SỐNG BÍ MẬT CỦA JAMES THURBER
Tôi chỉ mới xem qua đâu đó cuốn “Cuộc sống bí mật của Salvatore Dali” (với nhiều tranh của Dali và những ảnh chụp Dali), bởi vì bất cứ ai bị nhiễm cái mà Abigail, chị của bà nội tôi, gọi là “những lợi thế trường trực” sẽ chẳng làm gì hơn việc lướt qua những tự truyện như thế, nhất là trong những thời điểm nhàm chán.
Người ta chẳng cần phải lướt nhiều qua cuốn sách này thì mới đến được một minh họa nào đó cho biết toàn bộ hình dạng và phong vị của cuốn sách: kẻ mơ mộng trẻ tuổi với những giấc mơ cắn một con dơi bị ốm hay hôn một con ngựa chết, chàng thanh niên gày gò đi vào lãnh vực của đàn ông với cao vọng và khao khát về một ngày được ăn một con gà tây sống nhưng đã quay chín, gã tình nhân rầu rĩ mình đầy phân dê và thạch đông mà anh ta có thể tạo ra mùi hương đích thực và quí phái của cừu đực. Trong chuyến hành trình lướt qua Dali, tôi đã bắt gặp những hình ảnh thoáng qua của con người vĩ đại này: Salvador yêu thương một chùm hạt rụng từ cây ngô đồng, Salvador hồi nhỏ đá một người bạn té lọt xuống cầu, Salvador vuốt ve một cây nạng, Salvador làm vỡ mắt kính của bác sĩ gia đình bằng một cây đập nệm bọc da. Xem ra trên đời chỉ có hai thứ khiến ông ta kinh sợ (và tôi không định nói một con nhím đã chết từ lâu). Ông ta ghê tởm các bộ xương và châu chấu. Ô, phải, chúng ta ai cũng có những điều trái khoáy riêng.
Những ký ức của Dali đã khiến tôi suy nghĩ. Tôi thấy mình lầm bầm trong khi cạo râu, và có hai lần tôi đã vung cây nạng của tôi lên với một cô bé hàng xóm trên đường tôi đến bưu điện. Sách của Dali bán giá sáu đôla. Cuốn lịch sử đời tôi (Harper & Brothers xuất bản năm 1933) chỉ bán giá 1,75 đôla. Có lúc tôi phàn nàn sơ sơ về con số khác thường này, chủ yếu dựa trên lý do rằng nó chỉ chênh lệch năm mươi xu cao hơn một cuốn có tựa “The Adventures of Horace the Hedgehog” (Cuộc phiêu lưu của Horace Nhím) được xuất bản trong cùng một tháng. Nhà xuất bản giải thích rằng cái giá ấy là một đường thẳng đứng được ước lượng sát sao, xác định dựa trên mức lãi tối đa có thể đạt được, mà muốn đạt được mức lãi này thì lại phải tính đến ảnh hưởng của yếu tố chiều ngang đối với lợi tức tiệm giảm.
Hồi đó, các giám đốc của mọi công ty đều có một kiểu ăn nói nước đôi đầy tính phòng thủ, thường được diễn tả bằng giọng trầm, lầm bầm trong họng, bởi vì không ai biết điều gì sẽ xảy ra và không ai hiểu điều gì đã xảy ra. Khối đại doanh nghiệp đã bị kinh hoàng vì một chuỗi những hiện tượng kinh tế vốn đã chứng tỏ rằng nền văn minh của chúng ta đang gặp nguy cơ sụp đổ hoàn toàn hơn là suy yếu từ từ. Kết cục của toàn bộ sự vụ là chuyện tôi phải chấp nhận cái giá 1,75 đôla. Làm như thế, tôi đã chấp nhận thực trạng hiện nay như một tiêu chuẩn chính xác cho việc định giá bán sách. Và bây giờ, với tình trạng nghiêm trọng hơn gấp mười lần so với năm 1933, nhà xuất bản sách của Dali đã định giá sáu đôla cho câu chuyện đời ông ta. Điều này đưa tôi đến một kết luận không thể tránh khỏi rằng nguyên lý định giá, trong lãnh vực văn học, thì không áp dụng cho tất cả mà cho từng người. Rõ ràng, điều phiền hà là ở chỗ tôi đã nói quá nhiều về những chuyện xảy ra trong căn nhà tôi ở và nói quá ít về những gì diễn ra trong lòng tôi.
***
Cho phép tôi là người đầu tiên thừa nhận rằng sự thật trần truồng về tôi so với sự thật trần truồng về Salvador Dali thì cũng giống như cây đàn Hawaii bốn dây cũ xì so với một cây dương cầm mọc trên cây, và tôi muốn nói là một cây dương cầm có vú nữa kìa. Ông Dali có lợi thế hơn tôi nhiều ngay từ lúc xuất phát. Ông ta nhớ và diễn tả chi tiết hồi còn trong bụng mẹ ra sao. Ký ức xưa nhất của tôi là lần đi cùng cha tôi tới một phòng phiếu ở Columbus, Ohio, nơi ông ấy bầu cho William McKinley.
Đó là một căn phòng bằng tôle xám xịt, ít nhiều xập xệ, có gắn bánh xe để kéo đi, và trong đó đầy nhóc những người đàn ông cười nói om sòm và khói xì gà; về mọi mặt, nó khác xa cái nhau thai cứ như thiên đường trong ký ức đầu tiên của ông Dali mà ta có thể tưởng tượng ra. Một ông mập mạp vui vẻ nhong nhong tôi trên đùi của ông ta và nói rằng chẳng bao lâu tôi sẽ đủ lớn để bỏ phiếu chống lại William Jennings Bryan. Tôi nghĩ ông ta muốn nói rằng tôi có thể nhét tờ giấy gấp nhỏ vào cái khe trên cái thùng khóa cứng ngay khi cha tôi làm xong. Khi hiểu ra chuyện không phải là thế, thì tôi đã bị lôi ra khỏi chỗ đó trong gào la dãy dụa. Trong lúc dãy dụa chống cự như thế tôi đã làm văng mũ của cha tôi nhiều lần. Cái mũ quả dưa ấy chẳng phải là thứ tôi cực kỳ yêu thích, như ông Dali yêu thích bất cứ thứ gì ông ta gặp trên đời, và tôi e rằng, nếu tôi được sống lại ngày ấy, thì tôi sẽ quyết tâm, cho dù với sự tận tụy xa lạ mà tôi bây giờ đã hiểu, để đẻ ra một tình cảm sâu xa và khác người với cái mũ quả dưa ấy. Nó tồn tại dai dẳng trong ký ức tôi như một cái mũ hơi buồn cười, trông nó hơi lớn trong đám đông, khiến cha tôi có dáng vẻ của một quí ông nhạy cảm, mệt mỏi, đã bị thuyết phục phá lệ tham gia vào một trò chơi đoán chữ.
Chúng tôi hồi đó sống ở phố Champion còn phòng phiếu thì ở phố Mound. Khi viết lại tên những con phố này, tôi bắt đầu nhận ra một khác biệt quan trọng và cốt yếu giữa Salvador hồi nhỏ và tôi hồi nhỏ. Khác biệt này có thể nói là có liên quan đến môi trường sống. Salvador lớn lên ở Tây Ban Nha, một xứ sở được tô điểm bằng những truyền thuyết về Hannibal, El Greco và Cervantes. Tôi thì lớn lên ở Ohio, một miền đất thấm đẫm truyền thống của Đội quân Coxey, Liên đoàn Anti-Saloon, và William Howard Taft (1). Nên rất tự nhiên khi bầu không khí trong tâm hồn Salvador bị kích động vì những cơn gió lạ và chìm trong những làn sương mù phóng tưởng hơn là bầu không khí tâm hồn của tôi. Nhưng rên rỉ biện bạch cho tuổi thơ chán phèo của tôi như thế là đủ rồi. Chúng ta hãy trở lại với cuộc sống bí mật của tôi, chẳng nhiều gì, đồng thời dừng lại một chút để nhìn lướt qua Dali lần nữa.
***
Tâm trí Salvador Dali trở lại với một tuổi thơ nửa có thực nửa tưởng tượng, trong đó những góc cạnh của thực tại đôi khi không sắc nhọn bằng những góc cạnh của giấc mơ. Có vẻ như ông ta đã có được cái ý tưởng cho rằng điều đó giúp tách ông ta ra khỏi những Harry Spencer, Charlie Doakes, I. Feinberg, J.J. McNaboe, Willie Faulkner, Herbie Hoover, và tôi. Điều mà Dali có nhưng tất cả chúng ta không có là phong cảnh, những nhân vật, và trang phục hoàn hảo cho cuộc nổi loạn tuyệt vọng nho nhỏ của ông nhằm chống lại cái sạch sẽ, đúng qui ước, và tiện nghi thoải mái. Ông xức nước hoa lên tóc (việc này có thể khiến ông mất mạng nếu ông ta ở, thí dụ, Bayonne, bang New Jersey, hoặc Youngstown, bang Ohio), ông ta có một con thằn lằn hai đuôi, ông gắn những nút bạc trên giày, và ông ta quen biết, hoặc tưởng tượng rằng có quen biết, những cô bé tên Galuchka và Dullita. Như thế ông ta ra đời ở đâu đó trên con đường dẫn tới chứng hoang tưởng, xứ Poictesme mềm mại cho những lời cầu nguyện, xứ Oz cho những hiến tế của ông (2), thủ đô cho nỗi khao khát của con tim ông, diễn tả như thế để bạn có thể hiểu điều tôi muốn nói. Dù sao, chuyện chắc phải có vẻ như thế với một người ra đời ở Columbus, bang Ohio, kẻ mà lúc trẻ đã mua bộ đồ mười hai đôla ở cửa hàng F. & R. Lazarus Co., đã gội đầu bằng xà bông Ivory, đã có một con chó săn chỉ có một đuôi, và đã chơi (vui vẻ và hơi khác một chút) với những cô bé tên Irma và Betty và Ruby.
Một lợi thế khác mà chàng Dali có hơn tôi, từ quan điểm về nguồn kích thích hướng tới hoang tưởng, lại nằm trong bản chất của những người lớn trong thế giới thực của anh ta. Tại thị trấn Figueras quê nhà của Dali, có một dòng họ nghệ sĩ tên là Pitchot (với nhiều nhạc sĩ, họa sĩ, và thi sĩ), tất cả đều trầm trồ phần mặt đất mà chàng trai ngang ngược đã bước qua. Nếu một người trong bọn họ tình cờ thấy anh ta tự lao mình từ bờ đá xuống – một trò thư giãn ưa thích của người hùng của chúng ta – hoặc treo ngược chân lên và nhúng đầu vào một thùng nước, thì tin tức nóng hổi sẽ lan khắp thành phố rằng sự vĩ đại và thiên tài đã xuất hiện ở Figueras. Một bà có ngay vẻ ân cần của một bà mẹ khi cậu Salvador ném đá vào bà. Ngài thị trưởng một ngày kia té chết ngay dưới chân cậu. Một bác sĩ trong cộng đồng (không phải ông mà cậu đã quất roi vỡ mắt kiếng) bỗng phát bệnh và cố đánh đập cậu. (Ý kiến cho rằng ông bác sĩ bị mất trí vào thời điểm tấn công là của Dali chứ không phải của tôi.)
Những người lớn quanh tôi khi tôi còn mặc quần đùi thì chẳng hấp dẫn cũng chẳng ân cần gì. Bọn họ chủ yếu gồm có 11 bà dì, tất cả đều theo Giáo hội Giám lý, tin tưởng tận mạng vào thuốc chữa sình bụng, bột hạt cải chữa mẩn ngứa và Kinh thánh, và một phần trong tín điều của họ cho rằng các thiên hướng nghệ sĩ phải được chữa trị như chứng nấc cục hay hoảng loạn thần kinh. Không ai trong bọn họ là nghệ sĩ cả, trừ khi bạn muốn kể tới Dì Lou, người đã làm thơ có tới 16 trọng âm, gieo vần lúc trúng lúc trật, nhân dịp sinh nhật người khác hay vào lúc có thảm họa cấp quốc gia. Tôi chưa từng nghĩ tới chuyện cắn một con dơi trước mặt các dì hay ném đá vào họ. Tuy vậy, vẫn có một lối thoát: thế giới bí mật gồm những thành ngữ của tôi.
Hai năm trước vợ tôi với tôi, khi đang tìm mua nhà, đã đến một văn phòng công ty địa ốc ở New Milford. Một nhân viên công ty, lục lọi trong một hộp sắt chứa đầy chìa khóa, ngước lên nói, “Chìa khóa nhà Roxbury không có đây.” Đồng nghiệp của anh ta đáp, “Ổ khóa đó dởm lắm. Một bộ xương sẽ mở cho mày vào.” Tôi đột nhiên trở lại hồi năm tuổi, với mắt trợn tròn và miệng há hốc. Tôi mường tượng căn nhà Roxbury theo cách mà tôi hẳn đã mường tượng lúc năm tuổi, một căn nhà với những nỗi kinh hoàng đen ngòm và không tên vốn chắc chưa từng lướt qua tâm trí của cậu bé cắn dơi của chúng ta.
Chính từ những câu nói như thế, thản nhiên thoát ra từ miệng của các nhân viên địa ốc, các bà dì, cha cố, và những con người bình thường khác mà cái thế giới riêng tư huyền hoặc của tuổi thơ tôi hình thành. Trong thế giới này, những doanh nhân gọi điện về cho vợ để báo rằng họ bị kẹt cứng ở văn phòng tức là họ đang bị trói cứng vào chiếc ghế xoay, hay có lẽ còn bị nhét giẻ vào miệng, không thể di chuyển hay nói năng, ngoại trừ, như một phép lạ nào đó, việc gọi điện thoại về nhà; hàng trăm ngàn doanh nhân bị kẹt cứng trên ghế của họ trong hàng trăm ngàn văn phòng tại mọi thành phố trong vũ trụ tưởng tượng của tôi. Một chi tiết đặc biệt hay ho trong chuyện trói cứng mọi doanh nhân tại mọi thành phố là ở chỗ doanh nhân nào bị như thế thì luôn bị vào khoảng năm giờ chiều (3).
Rồi lại có người rời thành phố dưới một đám mây (4). Đôi khi tôi thấy người đó chìm trong một đám mây, và trở nên vô hình, như con mèo trong một bao tải. Có nhiều lúc đám mây đó bay lơ lửng, to bằng cỡ cái trường kỷ, cách đầu người đó cỡ một mét, lẽo đẽo theo ông ta tới bất cứ đâu. Ta có thể nghĩ về con người dưới đám mây trước khi ngủ; hình ảnh một người lang thang từ thị trấn này tới thị trấn khác quả là dễ ru ngủ.
Nhưng hình ảnh một bà Huston nọ, người đã bị chém nát (5) khi con gái bà chết trên bàn mổ, thì không có hiệu quả ru ngủ như thế. Tôi có thể mường tượng rõ hình ảnh các bác sĩ ngay trước khi họ cầm dao lao vào bà Huston, và tôi có thể nghe họ nói. “Này, bà Huston, ta sẽ bò lên bàn như một cô bé ngoan ngoãn, hay ta sẽ phải khiêng lên đây?” Tôi thường phải xua đuổi hình ảnh bà Huston trước khi ngủ, nhưng bà thường len vào những giấc mơ của tôi và hiện nay đôi khi bà vẫn còn làm như thế.
Tôi còn nhớ sinh vật kinh tởm vẫn thường tới ám ảnh những suy tưởng của tôi vào đêm nọ khi tôi nghe cha tôi hỏi mẹ tôi, “Khi em kể cho bà Johnson nghe chuyện con bé Betty thì bà ấy có nói gì không?” và mẹ tôi đáp, “Ồ, bà ấy là tất cả lỗ tai.” (6) Còn có nhiều hình ảnh ly kỳ khác trong thế giới tuổi thơ bí mật, siêu thực của tôi: một bà già luôn ở tuốt trên không, một ông chồng có vẻ không thể đặt bàn chân xuống, một người đàn ông mất đầu trong một vụ hỏa hoạn nhưng vẫn có thể gào thét chạy ra khỏi nhà, một quí cô nhưng thực chất là một con bồ câu bẩn thỉu (7). Đó là một thế giới mà nhất thiết người ta phải giữ cho riêng mình và nghĩ về nó trong im lặng, bởi vì nó sẽ vỡ nát ra khi dùng đến chữ nghĩa. Nếu bạn phơi nó ra dưới ánh sáng ban ngày và kiểm nghiệm nó bằng những câu hỏi, cha mẹ bạn sẽ cười cợt gạt phăng những phép mầu ấy đi, hoặc họ sẽ đo thân nhiệt của bạn và đưa bạn lên giường nằm nghỉ. (Vì bất cứ khi nào đo thân nhiệt thì tôi luôn bị sốt, tôi được đưa lên giường và bị bỏ nằm đó một mình với bà Huston.)
Một thế giới giống như thế giới của tôi hồi còn nhỏ, hỡi ôi, thì không chống được năm tháng. Nó là một bóng ma, mà nói theo kiểu của Henley, lóe lên, chập chờn, rồi tắt ngấm. Tôi nghĩ chắc vào thời điểm cô chị họ Frances của tôi ghé thăm là lúc thế giới ấy của tôi bắt đầu tan biến một cách chắc chắn và vĩnh viễn. Tôi về tới nhà vào một buổi hoàng hôn mưa rơi nọ và hỏi Frances đâu rồi. Bà đầu bếp nhà tôi nói, “Con bé đang ở phòng trước khóc đến rơi cả tim ra. (8)” Chuyện một người có thể khóc thảm thiết đến nỗi trái tim văng ra khỏi cơ thể, như một khối đỏ bầm nhẵn nhụi có hình thù rõ nét, là rất mới mẻ đối với tôi. Vì lý do nào đó tôi chưa từng nghe được cách diễn tả này, vốn rất thường gặp trong những gia đình Mỹ nơi những hy vọng và giấc mơ thường đi ngược lại kết quả đạt được. Tôi lên lầu và mở cửa vào phòng trước. Frances, lớn hơn tôi ba tuổi, nhảy bật ra khỏi giường và chạy qua chỗ tôi đứng, khóc nức nở, và xuống cầu thang.
Tôi bỏ cả mười lăm phút tìm kiếm xem trái tim ấy ở đâu. Tôi xé toạc nệm giường và đá tung những tấm thảm lên và thậm chí còn nhìn vào các ngăn kéo bàn giấy. Chẳng ích gì. Tôi nhìn ra màn mưa và bầu trời đang tối dần ngoài cửa sổ. Cái hình ảnh ưa thích của tôi về một người dưới đám mây bắt đầu mờ đi và tan biến mất. Một mình trong căn phòng, tôi nhận ra rằng mình có thể đối mặt với bà Huston với sự bình thản lạnh lùng. Dưới nhà, trong phòng khách, Frances vẫn đang khóc. Tôi bắt đầu bật cười.
A thế đấy, Salvador!
PHẠM VIÊM PHƯƠNG dịch
(1) Đội quân Coxey là cuộc biểu tình tuần hành xuất phát từ Ohio đến Washington D.C. năm 1894 của công nhân thất nghiệp do Jacob Coxey lãnh đạo. Anti-Saloon League là một tổ chức vận động cấm rượu ra đời ở Ohio năm 1893. William Howard Taft là tổng thống thứ 27 của Mỹ, quê ở Ohio. Tất cả đều là những chuyện quen thuộc với dân Ohio thời đó.
(2) Poictesme là xứ tưởng tượng do James Branch Cabell bịa ra làm bối cảnh cho nhiều truyện của ông. Oz là xứ tưởng tượng trong nhiều truyện của L. Frank Baum .
(3) to be tied up nghĩa là bận túi bụi, nhưng to tie sb up có nghĩa đen là trói ai lại. Tác giả bắt đầu kể những ấn tượng tuổi thơ của mình khi nghe những thành ngữ.
(4) under a cloud (dưới một đám mây) nghĩa là đáng ngờ.
(5) to cut sb up có nghĩa đen là chém, cắt ai bị thương nặng; và nghĩa bóng, khiến ai đó bị chấn động tâm lý.
(6) be all ears (nghĩa đen, là tất cả lỗ tai) nghĩa là háo hức chờ nghe người khác nói. Thurber tưởng tượng tới một sinh vật gồm toàn những lỗ tai.
(7) up in the air (ở cao trên không): chưa quyết định dứt khoát; put one’s foot down (đặt bàn chân xuống): cương quyết chống đối; lose one’s head (mất đầu): mất bình tĩnh; soiled dove (bồ câu bẩn thỉu): gái điếm.
(8) to cry her heart out (khóc rơi cả tim ra): khóc dữ dội, thảm thiết.