Nghiên cứu
BÙI VĂN NAM SƠN
16/03/2009
BAO GIỜ CÓ NHỮNG “DỊCH TRƯỜNG”?
Là người yêu danh thắng, đại ca Nguyễn Chấn Hùng lặn lội đi thăm khắp chốn Đông Tây. Riêng về Trung Quốc, đại ca tổng kết lại: “Tôi được thăm đất Trường An, Tây An xưa và nay. Quá khứ Trung Quốc chồng chất tại đây: đế đô Phong, Hạo của nhà Chu, kinh đô Hàm dương của vua Tần, đế đô Trường An của Hán Cao Tổ nằm hai bên bờ sông Vị Thủy. Tôi được thăm bảo tàng Binh Mã Dũng trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng, được cùng nhà thơ Bạch Cư Dị ngậm ngùi cho mối tình của Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi tại Thanh Hoa Trì nơi mỹ nhân thường tắm gội.
Và tháp Đại Nhạn với tượng Đường Tam Tạng lại đậm nét nhất trong tôi” (DNSGCT, số 23 tháng 2.2009).
Chữ “Và” nhẹ như không mở đầu câu cuối, song tôi muốn đọc thành chữ “Nhưng”! Lạ nhĩ mà cũng hay thật: tên tuổi
bao anh hùng, mỹ nhân lừng lẫy một thời khiến ta kinh hãi và xót thương, mà rồi
cũng phôi pha. Đọng lại “đậm nét nhất” trong tâm khảm lại là hình ảnh một lão
thư sinh áo vải, cặm cụi một mình sang phía Tây, dãi gió dầm sương cầu học, lầm
lũi trở về cố quốc, lại cặm cụi với quyển sách và cây bút cho đến phút cuối đời,
với lời trăn trối: “Các ngươi hãy bình tĩnh và hoan hỉ từ giã cái thân giả tạm
này sau khi nó đã làm xong nhiệm vụ”. Tức là xem tấm thân mình cũng như tờ giấy,
cây bút! Chỉ để “làm xong nhiệm vụ”. Nhiệm vụ gì vậy? Đường Thái Tông nói hộ
Ngài:
“Chân giáo khó tin, được mấy kẻ nhất tâm quy
ngưỡng
Tạp học dễ tập, nào ai hay phân biệt chính
tà
… Nghĩ muốn
chia điều chẻ lý, mở rộng chỗ học xưa
Bỏ ngụy thêm chân, khai thông kẻ hậu tấn”
(Lời đề từ cho “Tân
phiên kinh luận”)
Thế thôi. Bao nhiêu vinh quang
dành cho Ngài khi còn sống (đón rước linh đình, xây chùa dựng tháp cho Ngài làm
“dịch trường”) và sau khi nhắm mắt (vua bãi triều ba ngày, than thở: “Trẫm nay
mất một quốc bảo!”; một triệu người tham dự đám tang, ba vạn người làm lều ở cạnh
mộ…) đều chỉ là những chuyện phù vân. Người học trò ấy ra đi năm 33 tuổi (năm
628), lặn lội 17 năm, mang về nước 657 bộ kinh, dành 19 năm để dịch được 75 bộ,
gồm 1335 quyển. Bước vào tuổi 69 (cuối tháng 1, 664), còn bắt tay dịch bộ Đại Bảo
Tích, dịch được ít giòng, bỏ bút, than thở: “Bộ này dài bằng bộ Đại Bát Nhã,
Huyền Trang này tự lượng sức không còn dịch nỗi nữa”. Đệ tử khóc, đề nghị dịch
tóm tắt, Ngài không đồng ý. Mấy đêm sau, Ngài gác bút nghìn thu (5.2.664).
Hãy nghe đệ tử của Ngài là Huệ Lập
kể lại: “Ngài ở chùa Từ Ân, chuyên lo phiên dịch, ngày nào gặp việc, dịch chưa
xong, thì đêm đến, dịch thế lại, dịch cho đến chỗ làm dấu trước trong nguyên bản
mới dừng lại, cho tới canh ba. Sang canh năm, Ngài đã trở dậy, đọc to bản Kinh
chữ Phạn, lấy điểm son làm dấu thứ tự, dịch trước những đoạn sẽ dịch trong
ngày… Đau thì Ngài dùng thuốc chứ không bao giờ nghỉ việc phiên dịch và dạy học”.
(Võ Đình Cường, Đường Tam Tạng thỉnh
kinh).

Tam
Tạng Pháp sư Huyền Trang;
Thạch thất Đôn Hoàng, thế kỷ 9
Gió bụi biệt trung nguyên
Đường xa như đạo thiền
Cực tấm lòng bồ tát
Râu tóc cứ dài thêm
Bùi Văn Nam Sơn kính
đề
Vua Đường Cao Tông quý Ngài, muốn
đến thăm, nhưng thỉnh thoảng thôi vì cũng không dám quấy rầy! Đó là sức làm việc.
Còn đây là cách làm việc: “Ngài lấy ba bộ Đại Bát Nhã không cùng một mẫu đem từ
Ấn Độ về, hễ đến đoạn nào ngờ, thì đem ra so sánh, hiệu duyệt cẩn thận đến hai,
ba lần mới dám hạ bút”.
Ngài không làm việc một mình, mà
tổ chức cả một dịch trường gồm hàng
trăm người, phân công thành một hệ thống hoàn bị: - dịch chủ, là người chỉ huy, tinh thông Hán-Phạn, nghĩa lý phán đoán
xác thực, do Ngài đảm nhận; - bút thụ:
dịch nghĩa Phạn → Hán; - độ ngữ: thạo
tiếng Phạn, phiên âm ra tiếng Hán (vd: “Ba la mật”…) đọc lên nghe âm vận, thấy
không ổn thì phiên âm lại; - chứng Phạn:
so lại với Phạn văn xem có đúng không; - nhuận
văn: chuốt lại cho hợp với văn pháp Hán; - chứng nghĩa: đem bản dịch so lại với nghĩa lý nguyên bản, nếu sai
thì sửa lại; - tổng khám: xét chung lại
một lần cuối cùng trước khi hoàn thành bản dịch.
Là một dịch giả tinh thông,
nghiêm cẩn, Ngài đặc biệt quan tâm đến vấn đề phương pháp luận dịch thuật để tạo cơ sở vững chắc cho việc phiên dịch
sách kinh điển. Huyền Trang là người khai sáng thời đại tân dịch (phương pháp mới về phiên dịch kinh điển), kế thừa và phát
triển hai truyền thống trước đó là trực
dịch (dịch sát, thời Hán) và ý dịch
(dịch thoát, thời Lục Triều). Sở dĩ gọi là tân
dịch, theo Lương Khải Siêu, là vì: “Dịch sát và dịch thoát, phối hợp hài
hòa, đó chính là phương pháp phiên dịch tốt nhất” (Trực dịch ý dịch, viên mãn điều
hòa, tư đạo chi cực quý dã).
Tiền bối của Ngài là Đạo An, ngay
từ năm 382, đã đi rất xa trong lý thuyết phiên dịch, đúc kết lại trong nguyên tắc
ngũ thất bản (năm điều mất mát) và tam bất dị (ba điều khó), còn có giá trị
tham khảo quý báu cho ngày nay. Năm điều mất mát:
-
cú pháp ngược nhau (vd: Hán, Việt, Anh, Pháp có cú pháp
thuận; Phạn, Đức có cú pháp ngược), dịch không khéo sẽ sai với nguyên bản.
-
kinh điển Phạn chú trọng nội dung cần truyền đạt (thượng chất), còn văn phong Trung Quốc
(và cả Việt Nam?)
thích nói văn vẻ (hiếu văn): dịch hoa
mỹ thì không đúng nguyên tác; dịch trung thực thì không được ưa chuộng.
-
kinh điển dài dòng, bản dịch muốn ngắn gọn, là không đúng
nguyên tác.
-
kinh điển có phần bổ túc, chú thích rất dài, bản dịch cắt
bỏ đi mất.
-
kinh điển bàn sâu tán rộng, bản dịch lại cho là trùng lắp,
tùy tiện lược bỏ.
Còn ba điều khó là:
-
văn hóa, phong tục khác nhau, rất khó làm cho hai bên
hiểu nhau.
-
kinh điển uyên thâm, người thường không dễ lĩnh hội.
-
không dễ nắm bắt ý nghĩa đích thực của nguyên bản.
Đi vào kỹ thuật dịch, Ngài Huyền
Trang có đóng góp độc đáo và sáng tạo với nguyên tắc Ngũ bất phiên (năm điều không thể / không nên dịch): - những danh từ
riêng không thể dịch; - những danh từ mật giáo có uy lực gia trì, không nên dịch;
- những từ đa nghĩa, dịch một thì mất mấy nghĩa kia; - những chữ đã quen thuộc,
không nên dịch lại, làm rối thêm; - những gì nhảm nhí thì không nên dịch. Như thế,
nguyên tắc “ngũ thất bản” của Đạo An
và “ngũ bất phiên” của Huyền Trang đã
bao quát hầu hết những nội dung chính của một lý luận phiên dịch hoàn chỉnh, và
là cơ sở cho một môn thông diễn học về thánh điển (hermeneutica sacra) ở phương
Đông, song hành với những Philo, Origenes, Augustin, M. Luther ở phương Tây, đóng
góp vào môn thông diễn học phổ quát hiện đại (hermeneutica generalis), bàn về mối
quan hệ giữa văn bản, sự lý giải và dịch giả / người lý giải.
Từ ngày mất của Ngài Huyền Trang đến
chúng ta ngày nay là 1345 năm, tức hơn… mười ba thế kỷ. Kinh điển, sách vở
trong thiên hạ không biết phải chất thành bao nhiêu bồ. Công việc “chia điều chẻ lý”, “bỏ ngụy thêm chân” nặng nề và
khó khăn gấp vạn bội. Xin lấy Châu Âu làm ví dụ. Châu lục ấy gồm rất nhiều quốc
gia, với rất nhiều ngôn ngữ khác nhau. Và không phải cứ ở gần nhau là có thể đọc
được sách của nhau! Vì thế, công việc dịch thuật, chú giải buộc phải diễn ra ở đó
một cách quy mô, dồn dập và liên tục. Không dịch nhanh, dịch đúng, dịch đầy đủ,
dịch kịp thời thì các đại học, nhất là các bộ môn khoa học xã hội, nhân văn, chắc
phải đóng cửa hết. Không thể chờ đợi sinh viên phải thạo ngoại ngữ (làm sao có
thể tinh thông nhiều ngoại ngữ ở lứa tuổi đôi mươi!); và cho dù có biết, thì cả
nền học thuật đầy tự hào của một quốc gia độc lập cũng không được phép… nói bằng
tiếng nước ngoài!
Nói gần, nói xa, chẳng qua nói thật:
bao giờ ở ta mới có được những dịch
trường đúng nghĩa? Mười ba thế kỷ sau Huyền Trang!
B.V.N.S
Mùa Phật Đản, 2009
Trang
trướcVề đầu trang