- Xin ngài vào tắm kẻo nước nguội.
Giọng nàng nhỏ nhẹ và lễ phép.
Ngoài ba mươi tuổi, Chie mạnh khỏe và bầu bĩnh trong
bộ kimono giản dị màu lam. Là người giúp việc cho hoàng thân Cường Để,
cô đến ở đây đã hai năm theo sự bố trí của đại tá Wanatabe.
Năm ấy hoàng thân đã ngoài năm mươi tuổi, dáng vóc
nho nhã nhưng khuôn mặt gầy đượm buồn. Ông chăm chú viết, những chữ Nho
chân phương rất đẹp trên giấy trắng. Thấy Chie, ông ngẩng lên, vẻ mặt
ngần ngừ:
- Lại tắm. Ta mới tắm hôm kia…
Chie mỉm cười. Ông hoàng Việt Nam này rất lười tắm
gội. Người Nhật vốn rất sạch sẽ. Bao giờ cũng thế, Chie rất cương quyết
với ông.
Chie đến gần, đặt tay lên nút áo ông. Chiếc áo năm
thân màu nguyệt bạch với rất nhiều khuy vải. Ở Nhật đã hai mươi năm,
ông vẫn mặc áo Việt. Những chiếc áo ông đem theo từ Việt Nam đã cũ nát
từ lâu, chiếc áo này là do Chie phỏng theo áo cũ để may cho ông, kiểu
áo Việt trên nền lụa Nhật.
Nhưng hôm nay, ông hoàng dường như trái tính hơn mọi ngày. Ông chùn lại, xua tay, ánh mắt đầy nghi kỵ:
- Để ta yên!
Từ lúc Chie mới đến đây, ông vốn đã không tin nàng.
Ông không cho nàng sắp xếp thư từ giấy tờ trên bàn ông, dù chúng thường
rất lộn xộn. Mỗi lần đau ốm, ông cố giấu không cho nàng săn sóc.
Chie là người do quân đội Nhật cử đến. Ông nghi kỵ
nàng nhưng không thể từ khước nàng. Ông khư khư không cho nàng chạm tới
đống thư từ, nhưng lại quá cần nàng thu dọn giường nằm bề bộn, pha cho
ấm trà buổi sáng, khâu lại áo xống, cả ánh mắt cương quyết của nàng mỗi
lần bắt ông đi tắm…
Nhưng hôm nay nhìn vẻ mặt ông, Chie lẳng lặng không
nài ép gì nữa. Nàng quay ra một lúc rồi trở vào với khay trà. Nàng đã
quen, những lúc căng thẳng thế này chỉ có một ấm trà Tàu mới có thể làm
ông dịu lại.
Bước qua ngạch cửa, nàng khựng lại. Kỳ ngoại hầu Cường Để, hoàng đích tôn đời thứ năm của vua Gia Long đang bưng mặt khóc.
Ando Chie vội vã đặt khay xuống án thư, chạy đến đỡ
lấy mái tóc chớm bạc đang rũ rượi gục về phía trước. Tấm thân gầy mỏng
của người đàn ông như muốn sụp xuống trong tay nàng.
- Điện hạ… hoàng tử…
Chie cứ nghĩ ông sẽ đẩy nàng ra. Nhưng lần này Cường
Để chỉ ngẩng lên, mắt nhìn sững vào khoảng không trước mặt. Nàng nhẹ
nhàng chặm những giọt nước ứa ra quanh đôi mắt thất thần. “Có chuyện
gì…?”.
Cường Để không kiềm chế được, khóc nấc lên: “Bác Phan mất rồi!”.
Tại Tokyo một buổi chiều tháng tư, Cường Để nhận được
thư báo. Phan Bội Châu, người đã tìm đến ông khi ông mới hai mươi mốt
tuổi, đã tôn ông làm minh chủ của phong trào Đông du chống Pháp. Người
đã đón ông sang Nhật để tính chuyện phục quốc lâu dài. Việc Phan Bội
Châu bị bắt ở Thượng Hải đã là một đòn quá mạnh đối với ông. Từ ngày
ấy, ông không thôi cảm thấy lạc lõng, hoang mang; cảm giác thối chí
thỉnh thoảng lại ám ảnh ông, ông phải hết sức chống lại.
Bây giờ Phan Bội Châu đã mất. Hơn ba mươi năm lưu
vong trên đất Nhật, bao nhiêu ý chí, nghị lực của ông dường như được
truyền từ sức mạnh tinh thần của con người này. Vậy mà giờ đây người ấy
không còn nữa. Số phận đã bỏ rơi ông giữa một thế giới mênh mông xa lạ,
trong cảnh tiến thoái lưỡng nan.
Không phải là chuyện có thể chia sẻ với Ando Chie,
nhưng biết nói cùng ai ở nơi lữ thứ này. Phong trào Đông du đã tan rã,
Trần Đông Phong đã tự vẫn, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Siêu đã trốn đi, chỉ còn
mình ông trơ trọi giữa trời cùng đất tuyệt.
Chie cố gắng an ủi ông, dù không biết người chết là ai. Nàng dìu ông vào giường, đắp chăn, buông màn cho ông.
“Để mặc ta” - Cường Để nói, xua tay, quay mặt vào góc tối.
Chie gật đầu, nàng ém màn vào dưới nệm, bước lùi mấy bước.
“Chie, đừng đi!”.
Ông ta bíu lấy tay nàng. Chie cảm thấy tất cả nỗi cô
đơn, hoảng loạn của người đàn ông. Nàng cúi xuống, lồng tay vào chăn,
ôm lấy ông vỗ về, bất giác nàng cũng rơi nước mắt.
“Thiếp thương điện hạ lắm”. Chie nói, những tiếng rất
giản dị, nàng biết rõ Cường Để không giỏi tiếng Nhật, và nàng cũng
không biết lời an ủi nào hơn. Nhưng linh cảm dạy cho nàng biết phải làm
gì: nàng ghé nằm bên ông và ấp ủ ông bằng thân thể ấm áp của mình.
***
Đêm ấy trời mưa, khi trời sáng Chie cuốn màn, mở hé
cửa sổ, nàng nhìn thấy những cành anh đào sũng nước. Nàng đặt chậu nước
nóng cạnh giường, nhúng chiếc khăn bông trắng muốt rồi vắt thật ráo.
Người đàn ông của nàng đã tỉnh giấc. Nàng cúi xuống, mỉm cười dịu dàng,
lau mặt cho ông.
Kỳ ngoại hầu nắm lấy tay nàng, vẻ mặt ông lộ vẻ biết
ơn. Chốc lát, ông quên người đàn bà này là người của quân đội Nhật. Ba
mươi năm lưu lạc trên đất nước này, ông đã nhiều lần được chở che. Ông
Innukai và Kashiwabara đã bảo bọc ông, thuyền trưởng tàu Yayomaru đã
hết lòng che chở ông thoát khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp. Đó là
chuyện hai mươi, ba mươi năm trước. Lúc đó ông còn trẻ, chí khí còn
hăng hái; gần mười năm nay, từ khi Innukai bị ám sát rồi, ông quá chật
vật với cuộc sống, cô đơn, mệt mỏi. Phải nhận sự bảo trợ của lục quân
Nhật là bất đắc dĩ, ông không thể không dựa vào người Nhật, nhưng ông
biết Nhật và Pháp có thể bắt tay với nhau bất kỳ lúc nào. Ando Chie có
phải là tai mắt của quân Nhật không? Ai biết đâu được. Dù sao lúc này
bên ông chỉ còn có nàng thôi. Giờ phút này nàng đang dịu dàng lau mặt
ông. Cảm giác được chăm sóc làm ông bùi ngùi ứa lệ.
Chie chuyển dần chiếc khăn nóng xuống cổ và ngực ông, nàng nhẹ nhàng mở khuy áo để lau vai và lưng. Bỗng Cường Để buột miệng:
- Về Việt Nam! Ước gì ta được về Việt Nam!
Chie khựng lại một giây, rồi nàng hiểu, nhẹ vỗ vào lưng ông như dỗ dành:
- Rồi ngài sẽ về, nhất định có ngày ngài sẽ về mà.
Ôâng hoàng lưu vong cảm thấy ấm lòng, ông siết chặt
tay nàng như muốn cảm ơn. Trong lúc đó Chie lại thấy lòng âm thầm một
nỗi buồn. Ông sẽ đi, sẽ xa nàng, chắc chắn sẽ có ngày ấy…
Cuối tháng, đại tá Wanatabe gặp Ando Chie ở Bộ Tư
lệnh lục quân. Như thường lệ, Chie nói với ông về tất cả những sinh
hoạt của Cường Để. Wanatabe hỏi:
- Cô có thấy ông ta tiếp khách khứa từ xa tới không?
- Không ạ.
- Ông ta có nhận thư từ, tin tức gì từ Việt Nam?
- Không ạ.
Chie trả lời, chắc chắn đến nỗi Wanatabe không hỏi
thêm gì nữa. Ông ta nhìn Chie từ đầu đến chân như muốn đánh giá lại
quan hệ giữa nàng và người ngoại quốc lưu vong ấy. Chie đỏ mặt, nàng
hiểu cái nhìn của đại tá. Chắc chắn là ông ta rất khuyến khích việc
nàng lên giường với người đàn ông kia, điều đó rất có lợi cho công
việc. Chỉ có điều, ông ta không biết hôm qua nàng đã ủ ấm cho Cường Để,
không phải với tư cách một nhân viên của lục quân Nhật, mà với tất cả
tấm lòng của một người đàn bà.
Năm năm sau.
Chiến tranh khốc liệt trên khắp đất nước hoa anh đào.
Những trận bom Mỹ dội xuống. Những ngôi nhà bằng gỗ và giấy cháy phừng
phừng trong các góc phố Tokyo.
Đang mùa lá đỏ nhưng chẳng còn ai nghĩ đến lễ hội mùa
thu… Chỉ còn những đoàn người tản cư dắt díu nhau chạy. Ando Chie gói
quần áo vào hai chiếc tay nải. Vội vàng, nhưng nàng không quên những
chiếc áo lụa năm thân, áo dài the, khăn xếp, và cả bộ bình trà Tàu nhỏ
xíu.
- Ông ơi!
Chie gọi. Hoàng thân giật mình, quay ra. Hôm nay ông
mặc Âu phục chỉnh tề. Trong cảnh chộn rộn của Tokyo, vẻ chỉnh tề của
ông trông thật lạc lõng.
“Mình đi thôi, ông ạ. Mọi người đều tản cư về quê, chiều nay là chuyến chót”.
Hoàng thân hốt hoảng:
- Nhưng ta còn phải chờ máy bay… Biết đâu ngày mai máy bay sẽ tới.
Chie nhìn ông, xót xa. Cuối tháng bảy, nội các Suzuki
Kantaro đã tổ chức bữa tiệc linh đình đưa ông về nước. Sau ba mươi hai
năm xa quê, cái tin được về nước làm ông bàng hoàng. Trong bữa tiệc
linh đình tại khách sạn Đế Quốc, ông hân hoan từ giã hết các chính
khách đã ủng hộ ông… Mãi đến lúc sắp ra sân bay Haneda, cầm gói thức ăn
đi đường từ tay Chie, ông mới nhìn thấy vẻ buồn trong mắt nàng. “Đừng
buồn Chie, ta về nước rồi sẽ tính chuyện đón nàng sang”.
Chie mỉm cười. Ở Việt Nam, ông còn có người vợ cả và
hai con nay đã lớn. Người vợ mà ông đã xa cách từ năm hai lăm tuổi. Ông
sắp về với người đàn bà ấy. Nàng cảm thấy buồn, nhưng nàng mừng cho ông.
Ngày hôm ấy ông đi, rồi đến tối mịt lại quay về. Ông
kể, trên sân bay, nhân viên Bộ Tham mưu lục quân Nhật và ký giả báo chí
tề tựu để tiễn chân ông… Nhưng máy bay từ Sài Gòn không đến đón. Ông
quay về, ngã vật trên giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên cao… Chie
tháo giày cho ông, lau mặt cho ông. Nàng nhỏ nhẹ bảo ông: “Ông ạ, đừng
buồn, chắc máy bay bị trở ngại gì đó thôi, mai lại đến ấy mà!”.
Từ đó hôm nào nàng cũng quấn sushi cho ông đem theo…
Hôm nào ông cũng ra phi trường Haneda, hôm nào ông cũng trở về. Hơn năm
hôm sau, nhân viên lục quân lẫn ký giả không còn ai đến nữa, chỉ còn
ông ngày ngày một mình ngồi đợi. Lủi thủi tới, rồi lủi thủi về.
Và hôm nay, ngày cuối tháng bảy, bom B29 của Mỹ đã
trút xuống Tokyo, ông vẫn còn nghĩ đến chuyện đến phi trường chờ đợi.
Chie bảo ông:
- Mình phải đi thôi ông ạ! Phải chạy về quê, nếu không là chết.
- Đúng rồi, nàng cứ đi, ta ở lại, biết đâu…
Chie nắm lấy tay ông. Bàn tay ông gầy quá. Với mọi
người, ông là một hoàng thân, được các cơ quan tiếp đón, các ký giả săn
tin, được các nghị sĩ bảo trợ… Còn với nàng, đây là một người đàn ông
tha hương, lạc lõng, túng thiếu, cô độc… Lúc này, nàng nhất định phải
cứng rắn với ông, như những lúc bắt ông phải đi tắm vậy; nàng khoác tay
nải lên vai ông và đẩy ông đi. Cường Để gượng lại, phản đối, nhưng khi
bị đẩy đến cửa, dòng người tay xách nách mang chạy loạn đập vào mắt
ông, và ông hiểu ngay điều gì đang xảy ra.
Đêm đó trên chiếc xe bò lắc lư trong dòng xe qua vùng
ngoại ô, ông nhìn thấy Tokyo bốc cháy, lửa rực đỏ dưới những lằn máy
bay Mỹ vút ngang. Căn nhà mà lục quân Nhật cấp cho ông đã cháy rụi.
Tháng tám, bom nguyên tử dội xuống Nagasaki và
Hiroshima, Nhật Bản đầu hàng. Không còn ai đủ sức nghĩ đến vị hoàng tử
lưu vong. Chỉ có một người đàn bà thầm lặng mỗi ngày làm thuê cho một
xưởng than ở vùng quê để nuôi một người chồng lớn tuổi. Ando Chie lúc
này không còn là nhân viên của lục quân Nhật nữa. Buổi sáng, nàng thức
dậy nấu nước nóng cho chồng rồi tất tả đi; nàng vẫn thế, dù làm ở xưởng
than nhưng lúc nào về nhà cũng rất sạch sẽ, còn chồng nàng vẫn vậy, rất
lười tắm và suốt ngày ngồi chép những trang sách chữ Hán đã cũ nhàu.
Nhiều người hỏi sao ông chồng nàng chẳng làm việc gì
mưu sinh, Chie chỉ cười. Ông ấy là một ông hoàng. Dù rất nghèo và chẳng
hề có quyền uy. Ông chẳng làm được gì cho nàng cả, nhưng nàng yêu
thương ông với tất cả sự trìu mến xót xa. Trong lúc ông thì đau đáu chỉ
muốn về quê hương - nghĩa là rời xa nàng. Nhưng nếu ông không có giấc
mơ hồi hương, liệu ông có còn là người đàn ông mà nàng thương yêu không?
***
Năm năm sau. Cơ hội về nước lại đến. Ando Chie lại chuẩn bị hành lý cho Cường Để lên đường.
Nước Nhật đã trở lại thanh bình. Trước ngày Cường Để
về nước, bạn bè làm tiệc tiễn đưa. Ký giả Báo Asahi cũng đến dự. Cụng
ly mừng, nhà báo ngỏ ý muốn đưa tin chuyến trở về của vị hoàng thân sau
gần bốn mươi năm biệt xứ.
Chuyến đi lần này bằng đường biển, từ cảng Kobe đáp
tàu Hải Minh đến Bangkok rồi theo đường bộ qua Campuchia về Tây Ninh.
Vì sao phải về nước qua cửa khẩu Tây Ninh? Vì Việt Nam đang thời kỳ
chiến tranh Việt Pháp, Pháp vẫn còn đóng quân ở Nam kỳ. Nhưng Tây Ninh
nằm trong lãnh địa của Giáo chủ Phạm Công Tắc. Với sự bảo trợ của Phạm
Công Tắc, ông có thể lên bờ an toàn.
Ký giả Asahi dặn dò:
- Khi ngài tới nơi rồi, xin điện ngay cho tôi biết.
Cường Để ngẫm nghĩ:
- Trong nước hiện đang chiến tranh, tin tức khó gửi.
Có lẽ cứ tính theo hải trình, đến trung tuần tháng bảy thì bỉ nhân đã
đến quê nhà, quý ông có thể đưa tin được rồi.
Ando Chie đưa ông đến bến cảng. Mùa thu, khí trời se
lạnh. Tiếng quạ kêu vang sau những tàn cây lá đỏ. Ông đi rồi, Chie trở
lại căn hộ hai phòng ở phố Ogikubo. Con đường bỗng dài hơn bao giờ hết.
Ông hứa sẽ có ngày đón nàng sang Việt Nam. Lúc đó nàng chỉ bảo: “Bao
lâu cũng được”. Đến bây giờ, một mình trên con đường về nhà, nàng mới
thấm thía cả khoảng trống chơ vơ trước mặt, rằng có thể nàng sẽ mãi mãi
một mình trên đoạn đường còn lại…
Nàng tiếp tục khâu những con búp bê vải - những con búp bê đã nuôi sống nàng và ông từ lúc về lại Tokyo.
Đến tối, chủ nhà, bà Hashimoto gõ cửa hỏi thăm nàng. Bà đem vào cho nàng một gói bánh dẻo.
“Trông em xanh quá. Tôi pha cho em một chén trà nóng nhé?”.
Chie uống chén trà từ tay bà chủ nhà tốt bụng. Trà
nóng làm nàng hồi tỉnh. Nhìn hộp bánh dẻo xinh xắn, nàng nhớ đến chồng.
Ông ấy vẫn thích loại bánh này. Nhưng dùng trong khi uống trà Tàu - ông
vẫn không quen với trà Nhật.
Bây giờ ông ấy đi đến đâu rồi nhỉ? Bà Hashimoto vuốt
tóc nàng, dẫn nàng sang phòng làm việc của chồng bà, giáo sư Hashimoto
Masukichi. Trên vách, giữa những tủ sách đồ sộ là tấm bản đồ châu Á. Bà
chỉ cho Chie xem chỗ nào là Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam. Chie chăm chú
nhìn. Chồng nàng đang ở trên vùng biển xanh xanh kia, ngoài khơi cái
khối màu hồng rất lớn mà bà Hashimoto bảo là nước Trung Hoa.
“Em đừng buồn, rồi ông ấy sẽ đạt chí nguyện, sẽ trở lại đón em sang, em phải gắng giữ sức khỏe nhé!” - Bà Hashimoto an ủi.
Chie mỉm cười, nàng cúi đầu thật thấp tỏ lòng cảm ơn
bà chủ. Chiều hôm ấy nàng đến chùa Senso, bên chiếc đỉnh lớn nghi ngút
khói nhang giữa sân chùa, nàng vớt nhẹ khói hương ủ vào nơi lồng ngực.
Lần trong tay áo, nàng lấy ra số tiền nhỏ, đủ cúng dường để xin một lời
nguyện cầu.
Vị sư già hỏi nàng cầu nguyện gì để ghi vào tấm thẻ
gỗ trắng ngà. Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ. Nàng muốn cầu nguyện những gì,
chồng nàng sẽ có quyền uy, sẽ thành lãnh tụ, sẽ giàu sang, sẽ đón nàng
về cùng hưởng cuộc sống cao sang? Cầu cho chồng nàng sẽ không quên
nàng? Sẽ… Thực lòng nàng muốn gì?
Chie ngập ngừng một lát rồi se sẽ đọc cho vị sư già chép vào thớ gỗ:
- Tôi là Ando Chie… Cầu cho chồng tôi là Cường Để vượt sóng gió về đến quê nhà bình yên, sum họp với gia đình.
Vị sư già ngẩng nhìn nàng. Ông đã viết giúp cho thiện
nam tín nữ hàng ngàn lời nguyện. Ông nhìn Ando Chie một lát như muốn
hỏi điều gì, nhưng rồi lại thôi, cúi xuống cắm cúi viết.
Khi trở về nhà, nàng thấy giáo sư Hashimoto đang chờ
trước cổng. “Ando, có tin mừng cho cô đây”. Ông đưa nàng tờ nhật báo
Asahi. “Hoàng tử Việt Nam đã về đến quê nhà sau 32 năm ly hương”. Chie
mừng rơi nước mắt. Chiều hôm đó nàng làm món mì Nhật và sushi cá hồi,
mời ông bà Hashimoto để tỏ lòng biết ơn.
Ông bà về rồi, còn lại một mình Chie trong căn hộ
vắng lặng. Một đoạn đời đã chấm dứt, đoạn đời mới bắt đầu, một chặng
đường dài hun hút mà nàng sẽ phải đi một mình.
Nàng giở tờ báo Asahi, đọc lại bài viết, rồi lật dần ra những trang sau: những mục tìm nhà, tìm việc.
Cuối tháng bảy, bỗng bà Hashimoto đập cửa căn hộ của Ando Chie, hốt hoảng:
- Ando, người ta vừa điện đến cho ông nhà tôi. Cô phải ra ngay cảng Yokohama!
Chie cuống quýt, hai chân run cầm cập, lưỡi líu lại.
Nhưng người phụ nữ Nhật dường như được trời phú cho một nghị lực phi
thường, nàng kiềm chế thật nhanh cơn hoảng hốt, cầm lấy chiếc ô, chạy
ra cửa.
Bà Hashimoto tốt bụng đã kịp thuê giúp nàng một chiếc xe ngựa.
Trên cảng Yokohama về chiều, có một ông già ngồi trên
chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nhìn quanh với đôi mắt vô hồn, mặc kệ bao nhiêu
người qua lại. Chie chạy lại gần. Sao mới có một tháng mà chồng nàng
đổi thay đến thế, y phục nhàu nát, khuôn mặt gầy tọp rám nắng, mái tóc
bạc xỉn đi và bê bết bụi.
- Ông ơi…
Chie cầm lấy tay chồng. Bàn tay ông gầy trơ xương,
nhưng vẫn là bàn tay của ông, ông đang ở đây, bên nàng. “Ông ơi, sao
ông lại về được?”. Chie hỏi, nhưng người đàn ông ngẩn ngơ nhìn mông
lung, vẻ mặt sững sờ tuyệt vọng, dường như không còn nhận ra gì chung
quanh nữa. Ông chỉ không ngớt lẩm bẩm: “Không về được! Không về được
nữa! Không về nữa!”.
Với Chie, về là về Nhật Bản, với ông, về là về Việt Nam.
Hơn một tháng Chie ra sức chăm sóc, Cường Để mới dần
dần hồi tỉnh lại. Ông kể với nàng: tàu Hải Minh bị trục trặc bánh lái
nên đã ghé Thượng Hải một tuần. Trong khi đó, Báo Asahi đã đưa tin, và
mật vụ Pháp biết được rằng chuyến tàu phải cập cảng Bangkok, đã điện
cho Bộ Ngoại giao Thái. Vì quan hệ giao thương với Pháp, Chính phủ Thái
đã không cho Cường Để nhập cảnh Thái Lan, buộc lòng phải theo tàu quay
về Nhật Bản.
Cường Để không bao giờ còn trở lại như trước kia nữa.
Tuyệt vọng, suy sụp, ông đã hoàn toàn là một ông già trái tính trái
nết, đau ốm triền miên. Đôi khi, căm hận số phận, ông ném bất cứ cái gì
vớ được vào vách. Chie phải cất bộ đồ trà ông đem theo từ Việt Nam thật
kỹ, mỗi sáng pha trà xong nàng đứng chờ ông uống xong, đem cất ấm chén
rồi mới dám dời mắt.
Cuối mùa thu có hai người khách ở Việt Nam sang ghé
thăm. Họ là hai chính khách đang có thế lực, hứa sẽ tìm cách đưa Cường
Để về nước.
Khách về rồi, Chie dọn tách chén trên bàn, định bưng đi. Chợt ông níu tay nàng:
- Nàng ơi, nàng có tin ta còn về nước được không?
Chie đặt khay xuống, quay lại cầm cả hai bàn tay ông, vỗ về:
- Thiếp tin.
- Ta cũng tin vậy. Nghe nói chẳng bao lâu nữa người Pháp sẽ rút khỏi Đông Dương…
Chie lau những giọt mồ hôi đang ứa ra trên trán người
đàn ông. Dạo này ông yếu quá, chỉ một cơn xúc động cũng đủ làm mồ hôi
toát ra dầm dề.
Mấy hôm sau ông bồn chồn đến mất ngủ, lúc nào khỏe
lại lật giở những thư từ, sách vở đã cất giữ từ bốn mươi năm trước, cả
bức Thư huyết lệ của người Việt Nam mà ông viết khi mới ngoài ba mươi
tuổi.
Ba mươi năm đã qua, sứ mệnh cứu nước không còn nằm
trong tay thế hệ ông nữa rồi. Nhưng những bức thư cũ này sẽ mãi mãi là
kỷ niệm rực rỡ nhất của đời ông.
- Nàng cất kỹ những giấy tờ này cho ta. Khi ta về nước, đồng bào nhất định sẽ hỏi đến.
Chie đặt chén thuốc xuống bàn rồi đỡ lấy những tờ giấy cũ vàng tên tay ông.
Bây giờ ông đã tin nàng thật sự, ông giao cho nàng những tờ giấy này, đối với ông nó còn quý hơn cả bạc vàng.
- Uống thuốc đi mình - Chie nhắc. Cường Để gật đầu,
không đợi Chie nài ép dỗ dành như mọi lần, ông bưng chén thuốc đắng
ngắt uống cạn.
Gương mặt đang rạng rỡ của ông bỗng nhăn nhúm lại, một cơn đau đang âm ỉ dưới sườn non chợt nhói lên.
Chie đỡ cái bát, tay kia vỗ nhẹ lên lưng chồng như
muốn xoa dịu phần nào cái buốt nhói trong cơ thể ông. Tuần trước, bác
sĩ Bệnh viện Nihon Ika Daigaku đã nói cho nàng biết, Cường Để đã mắc
bệnh ung thư gan, ông chỉ còn sống nhiều lắm là ba tháng nữa.
Chie giữ kín tin dữ không cho ai hay. Nàng biết đây là lúc nàng phải mạnh hơn bao giờ hết.
Cường Để cố uống thuốc cho mau khỏi bệnh. Ông xem đi
xem lại bức thư của mấy người Việt vừa ghé thăm tháng tám năm ngoái,
bức thư hứa sẽ tìm cách vận động cho ông hồi hương. Mỗi lần đọc thư ông
thấy khỏe hẳn lên như vừa uống một thang thuốc bổ.
Nhưng đến đầu tháng tư, sau nhiều cơn đau hành hạ, Cường Để cũng nhận ra rằng mệnh của mình đã hết.
Ông cố mở đôi mắt mệt mỏi, gắng nhìn thật kỹ những gì
chung quanh: khung cửa sổ nhỏ, những chiếc áo Việt may bằng lụa Nhật
treo trên vách, chiếc chậu đồng dưới chân giường, những vật dụng thường
ngày của cuộc sống lưu vong tạm bợ, giờ phút này ông nhìn chúng với ánh
mắt bịn rịn vô cùng.
Mắt ông dừng lại nơi khuôn mặt Chie đang nhìn xuống,
vẻ thầm lặng và nhẫn nhục đầy yêu thương. Ông quờ quạng nắm lấy tay
nàng: Mình ơi, mình có phải là Phật Bà Quan Âm của tôi không?
Đó là lần đầu tiên ông nói lời tri ân với nàng sau
bao nhiêu năm chung sống. Nhưng nàng không hiểu gì cả, vì ông không
biết là mình không dùng tiếng Nhật. Như một bản năng, mấy hôm nay ông
chỉ nói toàn tiếng Việt.
Chie vẫn cúi nhìn, vẫn vẻ mặt âu yếm xót xa, nàng áp
sát mình xuống thân thể còm cõi của ông, tay nắm lấy cả hai tay ông như
muốn bảo: Đừng sợ, có thiếp đây, dù đi đến đâu ngài cũng không cô độc.
Cường Để dần thiếp đi.
Lúc ấy là năm giờ 5 phút sáng mồng 6 tháng 4 năm 1951. Một mình Ando Chie úp mặt khóc lặng lẽ trên thi thể ông.
Ngoài cửa sổ, hoa anh đào đang nở. Hôm ấy là ngày đầu của lễ hội hoa anh đào trên đất Nhật.
***
Cửa mở ra, hai người đàn ông theo Ando Chie bước vào
căn hộ. Đập vào mắt họ là những tấm hình của Kỳ ngoại hầu Cường Để trên
vách. Vị hoàng thân trẻ măng hai mươi lăm tuổi ngày mới đến Nhật. Hội
chủ Hội Đông du Phục Quốc, sinh viên trường Đại học Waseda, hình chụp
với Thủ tướng Innukai, hình chụp với ký giả Asahi trong bữa tiệc long
trọng tại khách sạn Đế Quốc… Tất cả là những trang đời đẹp nhất của
Cường Để. Còn hình ảnh buồn thảm những ngày chờ đợi trên sân bay
Haneda, những ngày chạy loạn nghèo túng cơ cực, ngày về tang thương
trên cảng Yokohama… Những hình ảnh ấy giờ đây chỉ còn trong ký ức Chie
mà thôi.
Hai tay bưng bình tro, Ando Chie trao di cốt Cường Để
cho hai con của ông. Nàng cúi mặt thầm nghĩ: Thế là ngài sắp về nhà,
giấc mơ cả đời của ngài giờ đây mới thành tựu. Ngài lên đường bình an,
lần này thiếp không phải gói sushi cho ngài mang đi nữa rồi.
Người con trai cả của Cường Để đỡ lấy bình tro di cốt
của cha. Mặt ông đầy nước mắt. Ông ngạc nhiên thấy người đàn bà Nhật
này vẫn bình thản, nét mặt trang nghiêm dịu dàng chỉ hơi phảng phất
buồn. Nhưng người con trai thứ hai đứng cách đó vài bước thấy rất rõ
đôi bàn tay của Chie sau khi trao xong bình tro. Đôi bàn tay ấy bấu
chặt vào nhau, những móng tay quắp vào da thịt, rồi chúng run rẩy bấu
víu lấy đôi tay áo kimono, và đến lượt thớ vải giằng co như sắp bị xé
rách ra.
Khi hai người đàn ông đi rồi, Chie khép cửa, quỳ
xuống sàn. Nàng lấy trong ống tay áo ra một mẩu xương và một nhúm tro
nhỏ. Chie đã giữ lại cho mình một phần thân thể của chồng.
Nàng biết mình không làm trái với ý nguyện ông. Dù
chẳng hiểu ông nói gì khi sắp mất nhưng nhìn vào mắt ông nàng biết, ông
rất muốn ở lại với nàng. Hình như vào giờ phút ấy ông nhận ra mình sắp
đi vào một cõi xa thăm thẳm, ở nơi ấy ông sẽ gọi cả trần gian này là
quê nhà. Và ở quê nhà đó, một trong những gì giản dị và thân thương
nhất chính là Chie…
Ando Chie mất bốn mươi năm sau, trước khi mất bà để
lại di chúc muốn được chôn cùng với nắm tro tàn của Kỳ ngoại hầu Cường
Để. Nhưng cho đến nay lọ hài cốt của bà vẫn còn trong phòng mộ tập thể
của nghĩa trang Zoshigaya, nơi có những cây tùng xanh biếc và tiếng quạ
kêu man mác buồn trong những buổi sáng mùa xuân.
(Trong tuyển truyện ngắn hay báo Thanh Niên 2007)