Tác phẩm mới
Góc nhìn
Sự kiện - Dòng chảy
Cảo thơm
Tiêu điểm
Đọc sách
Tiểu thuyết - Truyện dài
Sáng tác trẻ
Sổ tay nhà văn
Thế giới sách
Khuôn mặt
Văn hóa
Tân Thư Publishing
Chibooks
Tác giả
Gởi bài cộng tác

Tác phẩm mới


BA CUỐN SÁCH TRIẾT

Tủ sách Bùi Văn Nam Sơn tiếp tục cho ra đời trong tháng 6/2016 ba cuốn sách triết. Hai cuốn do ông biên soạn theo một thể thức rất mới lạ: tưởng tượng ra một cuộc đối thoại giữa tác giả (BVNS) và các triết gia nổi tiếng trong quá khứ, và ông sẽ nhập thân trong cả hai vai, đó là “Chat” với John Locke và “Chat” với Hannah Arend. Cuốn còn lại là bản dịch tiếng Việt đầu tiên trong khối trước tác đồ sộ của Edmund Husserl: Ý niệm hiện tượng học (Năm bài giảng).
xem tiếp ...

Bút ký - Tùy bút


TỪ KHANH
18/10/2013

Mây nhiều hơn núi

Upper Dharamsala không ngày nào không mưa, không ngày nào không mây trời tràn khắp những con đèo quặn thắt tróc lở. Mùa mưa thì trời mưa.

alt

Tôi đến vùng Thượng Dharamsala cuối Tháng 8. Mưa đón chào một trận ở bến xe. Lên đèo và xuống đèo lội nước đến nhà trọ. Những dòng nước trắng bong vô kỷ luật trào từ sườn núi rào rạt tiếng gọi lung tung.

Mở cửa phòng ra nhìn thấy núi cao ngang tầm mắt. Mưa ngưng nắng tới liền. Nhưng nắng nửa giờ là giỏi. Từ hút dưới thung lũng, một sợi mây lẩn thẩn trồi lên. Rồi thong dong thêm vài cột mây từ vực sâu rủ rê nhau, quấn thành một đám. To dần. Cho đến khi cả một trời mây từ thung lũng chen lên cao bít kín đỉnh núi xanh. Chưa đã, không cần gió mây vẫn trôi. Trôi thủng thỉnh cả một khối trắng bạc dửng dưng. Dửng dưng lửng lửng tràn vào phòng. Đóng cửa phòng thì sương mây chen vào khe cửa. Chạy đi đâu cho thoát cảnh trời mây bạc lạnh. Thôi thì cứ mở cửa ra đón hắn vào đường hoàng. Coi hắn làm gì được mình. Thiền sư Nhất Biến có câu ‘mây ở nửa căn ta nửa căn’ chắc là cái cảnh lạnh tanh này.

Đức Đạt Lai Lạt Ma ở trong khuôn viên một ngôi chùa không lớn lắm, không nguy nga như những tự viện khác. Tường cũ, màu trắng cũ nhạt có những viền vàng mang một vẻ buồn buồn ưu tư. Những bậc thang bằng đá cũng cũ, không cầu kỳ. Ngôi chùa nghèo nghèo, gần gũi, rất đủ bầu khí của một ngôi chùa bình dị. Các tôn tượng lớn chừng mực. Tôi thích nhất một pho tượng vàng óng đứng chồm tới, nghìn tay cầm binh khí vung ra mười phương, cổ choàng đầu lâu trắng, khuôn mặt hiện tướng phẫn nộ, đôi mắt tròn xoe tóe lửa. Đôi mắt nhìn trừng vào thế gian, bộ tướng hung dữ phóng ngàn ánh lửa mạnh mẽ. Pho tượng đồng toát lên một oai lực đẹp đẽ và thu hút lạ kỳ, nó khiến ta vỡ tan từng mảnh trước hình ảnh tràn đầy dũng lực không thể nào tả nổi.

Có thể đây là tượng Quán Thế Âm, hay thân tướng Đà La Tôn (Tara), vị bồ tát hóa sanh từ giọt nước mắt của Phật Bà. Nghìn tay nghìn mắt vẫn không cứu hết nỗi đau. Phải nghìn giọt nước mắt thương xót, nhỏ xuống đời. Mỗi giọt lệ hóa thành một vị Tara. Nước mắt của một bậc thành tựu may ra lau dịu những cơn thắt ruột. Đại sư Govinda người Đức, đã viết trong The Way of the White Clouds khi ông cảm kích rung động trước hiện tướng của các bậc thành tựu trong căn phòng dành riêng để thờ Phật Di Lặc:

Có phải Người là sứ giả

của kẻ đáo bỉ ngạn

và thả bè cho chúng sanh

vượt qua dòng suối giận?

Con chẳng gặp Người chăng

nơi nào con bước chân? -

con thấy Người trú ẩn

trong mắt em mắt chị mắt anh;

con nghe tiếng Người vang

trong tiếng nói của Thầy;

và gặp Người ở tận

trong vòng tay mẹ an lành.

Đại lực của pho tượng tràn khắp niệm phòng thinh lặng. Mây bên ngoài lặng lẽ đi vào những ô cửa gió quanh nóc điện. Sà xuống, vương víu quẩn quanh rồi xuyên qua cửa sổ ra ngoài triền núi đầy thông xanh.

Chỗ ở của đức Đạt Lai Lạt Ma đối diện chính điện, cách một cánh cổng lớn có lính gác bên trong. Dharamsala chỉ có núi. Đèo là đường giao thông chính. Không có một chỗ nào có thể gọi là bằng phẳng, nói chi đồng bằng. Vì thế từ nhà của đức Đạt Lai Lạt Ma qua chùa cũng phải trèo lên cao. Nước trôi xuống chỗ thấp, từ nơi thấp xuống thung lũng. Hơi nóng từ hướng nam kéo về gặp khí lạnh nơi này thành sương mây. Mây lững thững mà ngang dọc, màu trắng trùm lên những pho tượng, những tấm thangka và bích họa rực rỡ đen đỏ vàng nâu như tấm khăn voan mầu nhiệm. Mây trắng lay động theo những bóng người di động. Mây trắng phất phơ ngang màu xanh của núi. Màu vàng của tượng chìm trong mây trắng. Màu nâu của áo tăng chìm trong mây trắng. Rừng thông xanh thẳm nhạt dần phía chân núi. Lặng lẽ.

Nên con người sống ở đây cũng lặng lẽ.

Lạnh. Mưa. Mây.

Vùng đất này được trao cho người Tây Tạng lưu vong. Những triền núi Hy Mã loanh quanh chụm đầu vào nhau, quây thành những vực sâu, làm thành chỗ ngụ cư cho người lưu lạc buồn. Đôi khi đá cũng buồn, lăn long lóc xuống đường đèo, lối đi nghẽn nhưng người lưu lạc vẫn thản nhiên. Đá lăn là chuyện của đá. Mây mù là chuyện của mây. Mình cứ đi.

Hình ảnh của đức Đạt Lai Lạt Ma ở đây khác hẳn những lần Ngài đi thuyết pháp ở nước ngoài. Không xe hơi bóng loáng trên những con đường rộng và sạch, giữa những con người tươm tất sang trọng áo quần, trong những bóng đèn điện sáng choang.

Nơi đây, Ngài đi giữa những người áo quần luộm thuộm, những người Tây Tạng quấn khăn, cổ đeo các loại đá đủ màu, cổ tay quấn tràng hạt, tay cầm chuông cầu nguyện chậm chạp bước trên đường dốc. Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng bình dị trong tấm áo nâu, chậm chạp bước và mỉm cười nhìn con dân, hay trong chiếc xe hơi đời cũ.

Một buổi sáng đi học, bỗng tôi nghe tiếng chào từ một con đường nhỏ tẽ ra từ sườn núi. Một vị sư Tây Tạng cao lớn, mỉm cười hềnh hệch đứng ngay chỗ quanh, cứ như từ trong rừng hiện ra.

Tôi hỏi ‘thưa thầy đi đâu’. Ông bảo ‘tôi đi cùng hướng với anh.’ Chúng tôi lặng lẽ đi nhưng không nói chuyện vì đường dốc. Chợt trong đầu tôi lóe lên ý nghĩa sao thầy tự nhiên chào trước mà mình không hỏi thăm! Trong cuộc sống, không có gì là tình cờ, cái ta cho là ngẫu nhiên cũng có cái lý ngẫu nhiên của nó. Tao ngộ có khi là phùng ngộ, từ những sắp sẵn vượt khỏi hiểu biết. Trong nhiều thầy và người đi cùng hướng, sao chỉ có vị này chào trước. Chào xong không nói tiếng nào?

Tôi hỏi thưa thầy ở chùa nào. Ông quay người lại chỉ ngược lên một sườn núi, nhưng nhìn theo hướng tay ông chỉ thấy màu xanh của rừng thông trên triền núi dốc và dài thăm thẳm. Ông giải thích thêm là ‘chùa’ của ông không có tên. Không phải nơi để bá tánh đến. Đó là một cái chòi lợp tôn, bốn bức vách bằng những phiến đá chồng lên nhau. Chỗ mật tu của thầy khổ hạnh.

Tôi mời ông ghé vào một quán bên đường uống trà, ông nhận nhưng không ngồi bên ngoài mà chọn một bàn kín phía bên trong. Hai tay ông nâng tách trà bơ, thái độ điềm nhiên mà trân trọng, đọc kinh trước khi uống. Tôi không chắc ông bao nhiêu tuổi, chỉ đoán chừng sáu lăm hay bảy mươi gì đó. Cử chỉ và nét mặt thản nhiên của ông toát ra một không gian an bình. Tôi xin ông chụp chung một tấm hình nhưng ông khoát tay, bảo ông không được và không bao giờ chụp hình. Tôi sung sướng khi nghĩ sẽ xin ông dắt lên chỗ mật tu của ông. Vậy mà, chẳng hiểu bằng cách nào khi bước vô trong tính tiền, chỉ một thoáng quay ra thì không thấy ông đâu nữa.

Buổi trưa, cũng bất chợt như nắng đến, mưa dội dồn dập trên đường đá. Tôi đứng núp trên một hẻm đèo khác. Vài con bò đen nằm thản nhiên giữa lối. Người dân Ấn đi đường tránh bò, làm đường tránh cây. Riêng cả vùng Dharamsala này không ai dùng bao nhựa, đồ đựng đều bằng giấy. Thiên nhiên có sẵn. Con người bảo vệ.

Bất chợt vị sư đứng trước mặt tôi, cười hềnh hệch. Ông hiện ra bất ngờ như hồi sáng từ lối nhỏ. Ông che dù, ra dấu bảo tôi theo. Ghé ngang một hàng trái cây, ông lúi húi lựa khoai tây và cà chua, bảo mua đủ ăn hai tuần. Ông nhờ tôi cầm một tấm áo nâu vì bận xách giỏ trái cây, nói bây giờ lên chỗ tôi, gần. Chỉ chừng hai tiếng là tới.

Chúng tôi leo núi chậm rãi. Đường dốc dần nhưng không cần tới mây vì sương khói đã sẵn xung quanh. Ông đi không nghỉ nên tôi cũng ráng sức không nghỉ. Từ một độ cao, ngang một khúc quành, nhìn xuống thấy cả cụm quần cư Dharamsala, cả ngôi chùa của đức Đạt Lai Lạt Ma lấp ló ẩn hiện. Những căn nhà nằm quanh bốn triền núi, triền núi chụm vào nhau đổ dốc xuống thung lũng sâu. Ở những tổ bồ câu ấy đã thấy bình yên, nhưng từ trên cao nhìn xuống, từ đỉnh núi lặng thinh mây trời, bỗng thấy tội nghiệp những người sống trong cụm quần cư lao nhọc. Hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma giữa những ngôi nhà xúm xít chợt tỏa sức biểu tượng của một vị bồ tát dấn thân vào chốn người.

Vị sư ra dấu đã đến chỗ không được nói lớn. Bây giờ lối đi nhỏ chỉ có đá, chỉ vừa một người đi. Một bên sườn núi dốc, những cây thông thẳng đứng, những cây cổ thụ bám rêu xanh lóng lánh nước trong vắt những giọt bịn rịn trên màu xanh cây. Thỉnh thoảng trong rừng sâu, vài túp lều đá hiện ra nhưng không một bóng người.

Ông dẫn tôi đến căn lều đá của ông. Cổng nhỏ có một miếng tôn đã rỉ sét che ngang. Ông giở tấm tôn, bảo tôi cúi đầu vì trần nhà thấp. Bên trong có mái hiên nhỏ che tấm ván kê trên bốn cục đá. Có lẽ là chỗ ông ngồi ngắm tường đá. Trong căn phòng sáng lù mù rộng chừng sáu thước vuông của ông có một bàn thờ nhỏ, một miếng ván kê làm giường, những tấm mền cũ gần mục rã. Tường bằng những miếng đá chồng lên nhau, kết dính bằng đất nhão.

Xem cơ ngơi của đại gia xong, ông dắt tôi đi viếng ngôi tháp nhỏ nơi chôn nhục thân vị thầy của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Chúng tôi đi nhiễu nhiều vòng quanh ngôi tháp nhỏ. Lá rừng như sóng sánh âm thanh thinh lặng. Mây như tấm khăn choàng trắng người Tạng thường quấn quanh cổ trong các dịp lễ. Bước chân trần của thầy trầm tư. Không gian trầm mặc tưởng chừng nỗi thinh lặng vang thành tiếng.

Tiếng gì? Không biết. Tiếng kêu của một con đại bàng nhỏ. Tiếng bàn chân trần giẫm lên đá sỏi. Mưa tóc tách trên lá.

Bây giờ là mùa gì. Nơi này là chốn đâu. Không âm thanh sao biết mình ở đâu. Không động chuyển nào hay mùa tháng mấy.

Ông dẫn tôi trèo. Những giọt nước trong tinh từ lá xuyên qua làn mây mỏng trắng trong, rơi trên áo nâu sồng thấm đẫm. Ông đi loanh quanh trên những lối nhỏ loanh quanh. Những viên đá nhỏ rơi xuống sâu. Rồi rất bất chợt, nắng tóe ra từ nơi nào đấy. Tận thung lũng, một cầu vồng năm màu cong vút lên cao, lướt khỏi đỉnh núi. Quỳ xuống. Mưa còn lăn trên đá, thấm vào lòng đất.

TK


Trang trướcVề đầu trang