Dĩ nhiên điều này là đúng, nhưng cũng như mọi giấc mơ đều có khía cạnh ảo tưởng của mình, giấc mơ học thuật ở nước Mỹ cũng có những mặt trái, và mới đây đã có một cuốn sách được dịch ra tiếng Việt bàn rất sâu sắc và tinh tế về điều đó: Theo đuổi tri thức. Học giả, Địa vị & Văn hóa Học thuật của Deborah L. Rhode (Giáo sư Đại học Stanford), Bùi Thanh Châu dịch, Mai Sơn hiệu đính, Phạm Quốc Lộc giới thiệu, Ban Tu thư Đại học Hoa Sen và NXB Thời đại.

Một cái nhìn có thiên hướng so sánh sẽ nhanh chóng nhìn ra những khác biệt lớn, nhiều khi còn theo kiểu lộn ngược, giữa các vấn đề mà nền giáo dục Mỹ gặp phải và những vấn đề dai dẳng của giáo dục đại học Việt Nam: chẳng hạn như giới giáo sư và giảng viên đại học Việt Nam luôn phải gánh chịu lời phàn nàn là ham dạy hơn ham nghiên cứu, thì giáo sư đại học Mỹ lại bị chê trách là ham nghiên cứu (riêng) hơn là giảng dạy, đẩy trách nhiệm này cho những đồng nghiệp ít kinh nghiệm hơn, kể cả cho các nghiên cứu sinh. Hơn thế nữa, nền đại học Mỹ tuy cũng phải đối mặt với gánh nặng “biên chế” (đến mức có cả một giai thoại dẫn tới nhận định: “Khi một người đã là giáo sư chính thức, ông ta chỉ giải trình với Chúa”), nhưng có vẻ như vấn đề lớn hơn lại nằm ở chỗ họ sử dụng quá nhiều giáo sư và giảng viên “cơ động”, ký hợp đồng ngắn hạn: khoảng hai phần ba tổng số lượng giảng viên ở Mỹ làm việc theo kiểu bán thời gian (tr. 297).
Cuốn sách của Giáo sư Luật Rhode gồm sáu chương, ngoài chương đầu và chương cuối bàn về những vấn đề chung, các chương chính đi sâu vào bốn mảng: “học thuật”, “giảng dạy”, “quản trị và phục vụ” và “trí thức công chúng”. Rõ ràng ngoài những khác biệt như đã nêu ở trên, giáo dục đại học Mỹ hay ở bất kỳ đâu khác cũng vấp phải những khía cạnh tương đối giống nhau: trường đại học dường như để phục vụ cho giáo sư nhiều hơn là cho sinh viên, vì áp lực đánh giá mà người ta sản xuất ngày một nhiều sản phẩm khoa học vừa bí hiểm vừa không biết dùng để làm gì, thậm chí chẳng được mấy ai đọc, chưa nói là được trích dẫn - điều này liên quan chặt chẽ tới một phẩm chất luôn luôn được nhấn mạnh nhưng thường xuyên bị lơ là: tính chất liêm chính của nhà khoa học và của hoạt động nghiên cứu. Vấn đề bao quát hơn cả là dường như trong học thuật người ta “theo đuổi tri thức” ít hơn là theo đuổi danh tiếng và uy tín (những thứ liên quan cả đến tiền bạc và các lợi thế), điều này đã được Alain de Botton bàn đến trong một tác phẩm mang tên Status Anxiety (Lo âu về vị thế) in cách đây vài năm, và được Rhode bình luận một cách nặng nề: “Khi cả định chế lẫn cá nhân đối mặt với áp lực nâng cao danh tiếng của mình, những ưu tiên khác có thể bị gạt qua một bên” (tr. 293).
Những điều mà tác giả nêu ra trong cuốn sách ăn sâu trầm trọng vào đời sống học thuật nước Mỹ đến mức - đây chỉ là một ví dụ rất nhỏ - tuy tác phẩm này phê phán mạnh mẽ cách thể hiện sự uyên bác của học giới bằng rất nhiều chú thích nhưng nó cũng sử dụng một hệ thống chú thích dày đặc không kém một tác phẩm nghiên cứu điển hình nào khác.
H.T.