Anne
Enright sinh năm 1962 ở Dublin, học tiếng Anh và triết ở Trinity College,
Dublin, và học tiếp lấy bằng thạc sĩ về sáng tác ở Đại học East Anglia. Bà có
lúc làm nhà sản xuất chương trình truyền hình. Cuốn sách đầu tiên của bà là tập
truyện The Portable Virgin (Tượng Mẹ đồng trinh xách tay), ra đời
năm 1991, và đoạt giải Rooney của văn học Ireland. Hai tập truyện kế đó, Taking
Pictures (Chụp hình) và Yesterday’s
Weather (Thời tiết hôm qua) được xuất bản năm 2008. Các tiểu
thuyết của bà là The Wig My Father Wore (1995; Mái tóc giả cha tôi đội);
What Are You Like? (Trông bạn ra
sao?) đoạt giải Encore Award 2001; The Pleasure of Eliza Lynch
(2002; Niềm vui của Eliza Lynch); và The Gathering (2007; Họp mặt) đoạt
giải Man Booker cho truyện năm 2007.
Họp
mặt kể về những ngày Veronica - nhân
vật xưng “tôi” - đi chở xác anh trai mình, Liam, người đã tự tử ở Anh, về quê
nhà ở Ireland. Cuộc họp mặt ở đây là ngày canh xác ông anh đó của các anh chị
em trong nhà mẹ của họ trước khi đưa đi an táng. Đó là một trong những lần họp
mặt hiếm hoi sau khi mọi người đã trưởng thành và mỗi đứa một nơi.
Tiểu
thuyết chẳng có cốt truyện, biến cố kịch tính, cao trào hay thắt nút mở nút gì
cả (một đặc điểm thường gặp trong văn học hiện đại). Phần lớn những điều
Veronica kể với người đọc trong tác phẩm này là xảy ra trong trí óc, hay tâm
thức, của bà, còn hành động thực chỉ toàn những chuyện vặt (lái xe, uống rượu,
mua sắm, ngủ, vào phi trường, vân vân), không tạo ra diễn biến gì đáng kể.
Vì
là lần họp mặt hiếm hoi giữa các anh chị em ruột, tại nhà mẹ của họ, nơi họ
sống từ bé, nên nó là bối cảnh rất thuận tiện cho những ý nghĩ về quá khứ của
chính Veronica, về các anh chị em khác, rồi cả gia đình, từ bà mẹ tới bà ngoại.
Veronica
là con thứ bảy trong một gia đình đông anh em, 12 người, chưa kể bảy lần mẹ bà
sảy thai. Vì là đứa con ở giữa một lũ con đông, không phải con cả hay con út,
nên Veronica thường đóng vai phụ trong hầu hết biến cố trong gia đình – một vai
phụ nhỏ đến độ lắm khi bà như người ngoài, nhìn vào những sự kiện đó một cách
khách quan, không cảm thấy mối dây liên hệ hay có cái nhìn thiên vị dòng tộc
mình. Yếu tố này góp phần giải thích những ý nghĩ lạ lùng của bà về quá khứ của
gia đình.
Gia
đình bà theo Công giáo, như phần lớn dân Ireland – một dân tộc bị người Anh
(phần lớn theo Tin Lành) áp bức bao thế kỷ và cho đến nay vẫn khó chịu với
người Anh, nhưng đồng thời cũng bị áp lực của sức đồng hóa từ nước Anh với một
nền văn hóa phát triển hơn và một ngôn ngữ phổ biến hơn.
Qúa
khứ, hay truyền thống và lịch sử, kể cả nền giáo dục và nếp suy nghĩ – nói
chung là tất cả những gì tích tụ trong mỗi người theo thời gian, một cách vô
thức hoặc có ý thức – dù vinh quang hay rực rỡ đến đâu, đều dễ dàng trở thành
khuôn phép, quy ước, ràng buộc con người, nhất là tư tưởng của họ. Đến một lúc
nào đó, do ảnh hưởng của kiến thức và tư tưởng mới, con người có thể cảm thấy
quá khứ là một gánh nặng và có nhu cầu gỡ bỏ nó và tự giải phóng mình, thay vì
để quá khứ hay truyền thống khuôn định mình. Đó là điều ta thấy trong ý nghĩ
của Veronica trong truyện này.
Gia đình, cha mẹ, hay dòng tộc, thường được coi trọng
đến mức gần như linh thiêng, như những giá trị không thể hồ nghi và cần được
bảo vệ, thậm chí bảo vệ bằng mọi giá. Nhưng ta thấy Veronica thường nghĩ về mẹ
mình, và cả bà ngoại mình, ở góc độ tình yêu, nói rõ hơn là tình dục. Bà nói về
mẹ mình: “tôi không tha thứ cho bà chuyện tình dục. Sự ngốc nghếch của việc làm
tình quá nhiều.” (Khó có ai dám nghĩ về cha mẹ mình với hình ảnh họ hì hục làm
tình, có bầu liên tục, và đẻ ra cả đống con). Còn về cha mình, Veronica nghĩ, “Ông
quả có yêu mẹ tôi… Nhưng ông không yêu bà tới mức để cho bà được yên.” Ông làm
tình liên tục để tạo ra tới 12 đứa con và bảy lần sảy thai trong thân thể bà. Ông
làm tình vì “nó chỉ là điều ông cần làm, hoặc muốn làm; nó chỉ là điều mà ông
cảm thấy mình đáng hưởng.”
Veronica còn nghĩ về quan hệ tình cảm của bà ngoại,
dành cả một chương và nhiều đoạn rời khác để nói về mối tình hồi trẻ của bà
ngoại, nhưng tất cả chỉ do bà tưởng tượng ra dựa trên vài ký ức mơ hồ và mấy
giấy tờ thuê mướn nhà còn giữ được trong gia đình (việc bịa đặt lịch sử này,
theo thuật ngữ văn học, được gọi là lịch sử ngụy tác). Bà còn tưởng tượng lúc
về già, bà ngoại mình và Nugent, người được Veronica cho là thầm yêu bà ngoại
Ada suốt cả đời, có thể đã làm tình với nhau thế nào.
Truyền thống Công giáo cũng bàng bạc trong cuộc sống
của Veronica. Những câu trong Kinh Thánh được phát biểu rất bình thường, hay
tình cờ, đôi khi bị bóp méo qua giọng trẻ con để mang những ý nghĩa khác, nghĩa
là, những câu đó rất quen thuộc với mọi người trong thế giới của Veronica. Như
chúng ta biết, trẻ con Công giáo được học giáo lý cùng lúc với học chữ, và tôn
giáo này cũng là một giá trị linh thiêng bất khả xâm phạm đối với tín đồ. Và ở
Dublin, như Veronica kể, từng có phong trào của nhà thờ nhằm dẹp nạn bán dâm
trong thành phố. Nhưng Veronica cũng không đành lòng sống như vậy. Bà từng hỏi
cha: “Nếu Đức mẹ Đồng trinh Maria được đưa cả hồn lẫn xác lên trời, vậy Đức mẹ
đi vệ sinh ở chỗ nào?” Câu hỏi này khiến bà lãnh một bạt tai của cha mình,
nhưng bà lại xem đó là “bằng chứng duy nhất tôi nắm giữ cho thấy cha tôi là
người Công giáo.” Vì, cho dù còn nhỏ, bà đã thấy việc đi nhà thờ và giữ đạo của
gia đình bà hầu như chỉ là hình thức. Một kỷ niệm khác với nhà thờ của Veronica
là việc nhìn thấy một người đàn ông bị bệnh giang mai – một thứ bệnh lây qua
đường tình dục - trong buổi thánh lễ.
Những chi tiết kể trên khiến ta có cảm giác Veronica
dùng tình dục (chứ không phải văn chương gợi dục hoặc khiêu dâm) để bình thường
hóa, hoặc tầm thường hóa, gia đình và tôn giáo. Tình dục – nhất là khi mô tả
sinh hoạt tình dục mà không hề có bóng dáng tình yêu - có vẻ là một vũ khí hữu
hiệu để “giải thiêng” hay “giải hoặc”, nếu nói theo thuật ngữ văn học hiện đại.
Đây là thủ pháp thế tục hóa phổ biến và được tác giả sử dụng rải rác suốt trong
tác phẩm.
Ngay
ở trang đầu, Veronica nói rõ với người đọc: “Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy
ra tại nhà bà ngoại tôi hồi mùa hè năm tôi tám chín tuổi gì đó, nhưng tôi không
chắc liệu nó có thực sự xảy ra không. Tôi cần bằng chứng cho một sự kiện không
chắc chắn.” Đây là một câu đơn giản nhưng ta có thể thấy nhiều ý nghĩa trong
đó.
Bà
muốn kể lại chuyện trong quá khứ, những thứ đã trở thành lịch sử (với nhà văn
hiện đại, lịch sử cá nhân hoặc gia đình cũng quan trọng không kém lịch sử cộng
đồng), nhưng kể trong tâm trạng hoài nghi. Và giọng hoài nghi này xuất hiện thường
xuyên trong tác phẩm. Veronica luôn thấy rằng chuyện gì đó có thể đã xảy ra có
thể không, và luôn tự hỏi đâu là sự thực.
Ngay
cả sự kiện kinh khủng; chuyện “đã xảy ra tại nhà bà ngoại tôi hồi mùa hè năm
tôi tám chín tuổi gì đó” (việc Nugent lạm dụng tình dục Liam) và thậm chí hàm ý
rằng đó chính là nguyên nhân đẩy Liam vào con đường đi hoang, nghiện rượu, rồi
tự sát; thì phải đến quá nửa tác phẩm bà mới kể ra được, nhưng Veronica vẫn hồ
nghi không chắc hình ảnh mình nhớ được là có thực hay không, hay nó đã xảy ra
với bà chứ không phải với Liam.
Khi nghĩ về Liam, Veronica thấy rằng tài năng lớn của
anh ấy là “phơi bày những lời nói dối.” Nhưng bà còn phải làm một việc cực nhọc
hơn: phơi bày sự thực (tức là, kể lại vụ lạm dụng tình dục cho mọi người biết).
Trong lúc anh chị em họp mặt, uống chút rượu, nói và làm đủ những chuyện bâng
quơ, mỗi khi nghe câu “Cái gì?” của người khác hay của chính mình, Veronica đều
diễn dịch thành câu “Sự thật thì ích gì cho chúng ta lúc này?” Cảm giác
bất định này khiến Veronica hoang mang, chạy trốn mọi người, và trăn trở mãi
đến tận cuối truyện mới quyết định được mình phải kể sự thật này ra. Như thế,
qua ý nghĩ của Veronica, độc giả đối diện một mớ bòng bong gồm những sự kiện có
thực và tưởng tượng đan xen, trộn lẫn vào nhau, trong khi tác giả không hề cố
gắng phân định chúng rạch ròi ra.
Một
trong những trăn trở của nhân vật chính trong rất nhiều tác phẩm hư cấu hiện
đại là nỗi lo sợ rằng cuộc đời mình đã bị lập trình bởi người khác, hay bởi
những yếu tố ngoại tại (quá khứ, nền giáo dục, gia đình, tôn giáo, vân vân).
Thuật ngữ văn học gọi tâm trạng này là tính cách đa nghi hoang tưởng (paranoia).
Nhân vật luôn mưu tìm chân lý nhưng lại đa nghi tới mức không dám tin vào sự
thực nào cả. Điều này khiến người đọc phải đối diện một điều hiển nhiên: ý
nghĩa của cuộc đời, sự kiện, hay tác phẩm, qua cách tác giả trình bày, là phải
do chính mình tìm ra. Các tác giả hiện đại từ chối không chịu đưa ra (tức là áp
đặt) một lý giải hay ý nghĩa hoàn chỉnh nào cho bất cứ điều gì họ viết ra, bất
cứ câu chuyện nào họ kể lại.
Áp
lực từ những yếu tố ngoại tại nói trên mạnh tới nỗi phần lớn cuộc đời chúng ta
là hành động theo ý người khác (cha mẹ, vợ con, dòng họ, cộng đồng, cấp trên,
khách hàng, vân vân), và những kẻ hành động hoàn toàn theo ý mình thường bị coi
là quái dị, điên khùng, suy đồi, hoặc vô số tên gọi xấu xa khác. Hơn nữa, con
người nghe chừng không thể làm gì mà không có mục đích. Chính mục đích quyết
định hành động của họ. Nhân vật Veronica có vẻ muốn thoát khỏi điều đó khi bà
ta lái xe theo kiểu “tôi thôi điều khiển chiếc xe chạy đường này đường nọ và để
nó đi tới nơi nó muốn.” Nhưng rồi nó lại đưa bà tới những chỗ đã biết, những
chỗ đầy kỷ niệm quá khứ. Bà quyết định tới phi trường, mua bừa một tấm vé để
tới đâu cũng được. Nhưng cũng không thể làm nổi. Sự bất định, nỗi khao khát
muốn vượt thoát, sau cùng, chỉ trở thành nỗi sợ hãi. Và Veronica nhận ra cách
duy nhất để giảm bớt nỗi sợ hãi là trở lại với đời sống bình thường, nằm trong
vòng kiểm soát của mình, như con chim sống trong lồng lâu năm, khi cửa lồng mở,
nó ra ngoài nhưng rồi ít lâu sau lại tìm về cái lồng. Có vẻ như không ai thoát
được quá khứ.
Trở
lại với câu văn ở đầu tác phẩm, “Tôi muốn ghi lại những gì đã xảy ra tại nhà bà
ngoại tôi…” tuy nó là câu của nhân vật Veronica nói với người đọc, nhưng ta có
thể hiểu rằng nó là của tác giả. Và rải rác trong truyện, Veronica (hay tác
giả) vẫn nhắc lại việc viết cuốn sách này. Đây là một thủ pháp thường gặp trong
mảng tác phẩm metafiction (siêu hư cấu). Nói ngắn gọn, siêu hư cấu là truyện về
truyện, tức là, truyện có suy nghĩ một cách ý thức về bản chất của truyện hư
cấu, những phương cách sáng tạo truyện và ảnh hưởng của truyện đối với độc giả.
Trong
loại truyện này, tác giả thường tìm cách nhắc người đọc rằng họ đang xem một
tác phẩm hư cấu, hoàn toàn bịa đặt, và qua đó, tác giả từ chối trách nhiệm về
những ảnh hưởng có thể có của tác phẩm đối với người đọc, đồng thời mời gọi
người đọc chia sẻ tâm trạng hay suy nghĩ với nhân vật, thay vì chờ đợi tác giả
đem lại lời giải cho câu chuyện, hoặc đúc kết thành một bài học nào đó.
Như
thế, những suy nghĩ, quyết định, lựa chọn, vân vân, của nhân vật Veronica trong
suốt tác phẩm, dù ở đầu hay ở cuối, đều là hư cấu, và tuyệt đối không thể là
chân lý hay quyết định đúng đắn cho chúng ta noi theo. Người đọc chúng ta, như
đám du khách, sau khi được dẫn đi qua nhiều ngõ ngách đường sá lớn nhỏ, bỗng
thấy mình đứng ở chỗ đồng trống, không một đường mòn hay mái nhà làm mốc định
hướng, và phải tự suy nghĩ và lựa chọn. Cách viết này, có thể nói, đã đẩy người
đọc vào thực tại, dù là thực tại hư cấu, khác xa lối viết cổ điển, với cốt
truyện chặt chẽ; nhân vật được xây dựng hợp lý và có tính cách rõ rệt; và mọi ý
nghĩa của câu chuyện hầu như đều được bày hết trên mặt giấy. Điều này, xét cho
cùng, có thể được hiểu là một biểu hiện của tinh thần khai phóng và dân chủ
trong sáng tạo văn học.
***
Họp
mặt, theo tôi, là một tác phẩm khó
đọc, và cần được đọc nhiều lần để có thể vượt qua mê cung gồm những liên tưởng
trong ý nghĩ của nhân vật, những mớ lộn xộn giữa sự kiện và tưởng tượng (trong
truyện), và những câu chữ có khi bóng bẩy có khi hờ hững khiến ta khó nắm bắt ý
nghĩ của tác giả. Bài viết này của người dịch chỉ hy vọng trao đổi chút kinh
nghiệm đọc và mấy ý nghĩ rời về tác phẩm, trong cố gắng tìm hiểu tại sao nó
được trao một giải thưởng cao quý như vậy.
P.V.P.