|
Nhà văn Pháp gốc Việt Linda Lê.
|
Đề tài lá thư dài của Linda Lê (in trong một tủ sách
chỉ toàn những lá thư) thật hóc hiểm: 65 trang sách khổ nhỏ được tác giả
tập truyện ngắn Lại chơi với lửa dùng để viết những gì bà muốn nói với
một người nhận không tồn tại: đứa con mà bà không sinh. Đây không phải
một tác phẩm kiểu “roman épistolaire” (tiểu thuyết dưới dạng thư) truyền
thống thường thấy ở các nhà lãng mạn chủ nghĩa hay các nhà văn phong
tình thế kỷ 18, cũng không phải là tiếng lòng nức nở của một bà mẹ gửi
cho đứa con không ra đời vì bị sảy thai. Ngay lập tức, tính chất “no
reply” (không hồi âm) của dự tính này đã được nhấn mạnh về độ buồn bã
bởi Linda Lê viết thư gửi một đứa con bất khả, bà viết để cho biết mình
sẽ không bao giờ sinh con, hay nói đúng hơn, bà viết ra các suy tư của
mình về việc không sinh con.
Bức thư của Linda Lê mở ra bằng câu: “Con, đứa trẻ mà
tôi sẽ không sinh, tôi tự hỏi con có thể có những đường nét thế nào nếu
tôi đẻ con ra: góc cạnh như khuôn mặt bố tôi hay nhạt nhoà như khuôn mặt
người đàn ông tên S. ấy, người tôi đã yêu trong suốt năm năm, bền bỉ
đến đáng kinh ngạc, người từng bảo tôi rằng mình rất có khiếu làm cha?”
(trang 7). Đứa con này không ra đời, nhưng những rối loạn do sự hiện
diện có thể của nó gây ra cũng không kém phần bức bối nếu so với những
rối loạn do sự vắng mặt thực tế của nó: tác giả bức thư và S. triền miên
tranh cãi về đối tượng vô hình ấy; để đương đầu với các lý lẽ dính dáng
tới thiên chức phụ nữ của S., tác giả bức thư đưa ra lập luận rằng:
“trong một thế giới đang lao tới thảm hoạ, việc sinh nở là một tội ác”,
bằng chứng cho sự mù quáng (trang 8).
Chủ nghĩa cá nhân và sự tập trung quá mức vào tính chất
duy nhất ngay lập tức nổi lên trên bề mặt cuộc suy tư siêu hình về sự
sinh ra, điều đó là hiển nhiên trong một tình huống như thế này. Tuy
nhiên, nếu gạt bỏ được những thoáng gợn về mặt đạo lý, hay tâm lý, thì
vị thế cái nhìn này cũng chứa đựng rất nhiều sáng suốt. Với tác giả bức
thư, cái tôi là nguyên khối, sinh con cũng đồng nghĩa với tự làm mình
“mềm dẻo đi”, tự hao tổn. Rồi với một người hằn sâu ở trong đầu cái suy
nghĩ rằng chỉ phù du là tồn tại thực sự, một người “trân quý sự cô độc”
(trang 11), sự hợp lý vốn hiển nhiên trong mắt người khác lại là khó
hiểu, thậm chí phi lý.
Rồi chiều hướng của sáng suốt và hợp lý tăng dần lên
theo những trang thư: “Tôi, người có tâm trí kém cân bằng đến thế, người
thường xuyên rơi vào những cơn hoảng hốt vô nguyên cớ, rất có thể tôi
sẽ truyền sang cho con, rất có thể con sẽ là một người bất ổn, không có
những mối quan tâm giống với những người bình thường. Tôi sẽ truyền đi
được gì đây nếu như không phải là sự bất lực của tôi trong việc trụ được
bên trong chuẩn mực, những bối rối của tôi trước những gì làm người
quen của tôi vui vẻ” (trang 25-26).
Là một nhà văn, sự triệt để trong suy nghĩ của tác giả
bức thư được đẩy đến mức phủ nhận ẩn dụ thường thấy về “thai nghén” và
“sinh hạ” tác phẩm: “Việc cho ra đời một tác phẩm văn chương không tương
đương với sự bừng nở bên trong mình một mầm sống” (trang 45). Sự triệt
để này làm nên sức mạnh cho văn chương, nhưng nó cũng dẫn tới điên rồ,
kể cả điên rồ bệnh lý, và quả thực tác giả bức thư đã phải vào trại tâm
thần (chi tiết tương tự trong đời thật của Linda Lê; trong bức thư này,
nhiều câu chuyện đáng buồn của tuổi thơ tác giả cũng được kể lại, với sự
góp mặt của một bà mẹ chuyên chế được đặt biệt danh là Big Mother) và
tại đây sự điên của tác giả ấy được đặt cạnh sự điên của người đàn bà có
con chết khi sinh nở, và ta khó nói được cái điên nào khủng khiếp hơn –
của người đàn bà sinh con bị chết hay của người đàn bà từ chối sinh
con. Không phải ngẫu nhiên mà có chỗ Linda Lê dùng đến cụm từ “tự mắc
bẫy chính mình” để miêu tả trạng thái dằng dai, tiến thoái lưỡng nan mà
tác giả bức thư rơi vào.
Nhưng đứa con không ra đời dần dà tồn tại, tồn tại đến
mức độ khi nghĩ đến nó, tác giả bức thư nghĩ: “Đó không phải sự hối hận,
mà một cảm giác không thể định nghĩa về tàn tật, như thể tôi bị cắt đi
một tay hay một chân” (trang 54). Cứ nghĩ mãi, đứa trẻ đã trở thành một
phần trong người đàn bà (trang 63), cho dù nó không hiện hữu. Sau cãi
vã, điên rồ và mất mát, sự thanh thản đã ló dạng ở đoạn cuối bức thư,
như thể theo một chuyển hoá đặc biệt, sự vắng mặt đau đớn đã dần biến
thành sự hiện diện cứu rỗi.
C.V.D.