Đó
chính là thế giới được kết thành từ những truyện ngắn của Vũ Thành Sơn. Nó không
khiến ta vồ vập ngay lập tức, nếu không muốn nói là khó đọc, nhưng nó có sự
quyến rũ của sự khám phá. Tác giả đã vén màn từ từ cho ta thấy cuộc sống là tẻ
nhạt, đều đều, không phi lý cũng không hữu lý, nó là không dưng (gratuitous),
là có đó, là trung tính, là “một hiện thực tẻ ngắt mà chúng ta phải chung đụng
hằng ngày.” (trang 78) Anh nắm bắt cái sự thật đó dễ dàng như người ta cầm cái mũ
hứng không khí - trong trường hợp của anh là chỉ cần viết ra những truyện ngắn.
Anh gần như nắm hết mọi ngóc ngách của cuộc sống hiện đại, nhưng không cần phân
tích nó, mà chỉ phơi bày những khoảnh khắc tương ứng với những ngóc ngách. Tác
giả tỏ ra là một người rất lịch duyệt. Và với nghệ thuật kể chuyện trôi chảy
như vậy lẽ ra anh có thể viết tiểu thuyết. (Những người lịch duyệt thường viết
tiểu thuyết. Hoặc, chúng ta thường nhận ra sự lịch duyệt của nhà văn khi đọc
tiểu thuyết của họ.) Nhưng Vũ Thành Sơn không viết tiểu thuyết để khám phá điều
anh muốn khám phá, anh viết từng truyện ngắn một, tương tự như họa sĩ thời hiện
đại không thể vẽ một bức bích họa lấp kín những mái vòm nhà thờ mênh mông thời
phục hưng châu Âu mà chỉ miêu tả cái cảm thức của mình qua từng bức tranh.
Nhưng
nói ngược lại cũng đúng. Đọc truyện ngắn Vũ Thành Sơn, chúng ta bất chợt ngộ ra
một điều: cuộc sống này (thực chất là cuộc sống tinh thần) thật khó sống vì nó
đang từng ngày bị những cấu trúc vật chất hiện đại bao vây, lấn át. (Sau khi
tiểu thuyết mới (nouveau roman) làm sinh động thêm một chiều kích mới của con
người: sự liên hệ mật thiết với thế giới đồ vật, bây giờ là lúc ta thấy cái thế
giới đó lên ngôi thống trị.) Đó là lý do tác giả sẽ miêu tả không mệt mỏi và tỉ
mỉ thế giới hữu hình: xe cộ, biệt thự, những hàng cây, bãi cát, gió, những bữa
ăn với nước sốt và bánh mì, những cảnh trí, đôi bốt, ngọn cỏ… Thế giới xung quanh được miêu tả sống động bao
nhiêu thì “khuôn mặt” con người mờ nhạt bấy nhiêu. Và trong tình thế đó, con
người yếu dần, yếu dần, dễ dàng bị nhấn chìm, bị choáng ngợp. Năng lượng sống
nguyên sơ của con người chỉ có thể được khôi phục trọn vẹn khi “những thứ khác”
biến mất: hành lang hẹp, cầu thang máy, cái sân xi măng, con phố chật, ngã tư
đông người, gã trưởng phòng kế toán… Tại sao không là sự biến mất của hà mã,
chó, chim, cá, ngựa, đồng cỏ, thảo nguyên, những đám mây, con cá bạc, những giọt
nước…? Câu trả lời phải chăng là vì con người khởi thủy được tạo nên bằng đất
cát trong vườn địa đàng.
BOX:
Đi
thăm một người bệnh tuyệt vọng là điều nàng không thích. Nàng cũng dị ứng với
cái không khí nặng trĩu của bệnh viện… Nhưng nàng đã đi, đã tận mắt thấy anh
bạn của chồng mình nằm đó mà như đang bị đẩy ra ngoài cuộc sống căng tràn dự
phóng này. Một tâm hồn nhẹ nhõm, đang đứng trước ngưỡng cửa hạnh phúc gia đình
lại phải chứng kiến một người đứng trước ngưỡng cửa cái chết, đó quả là một
kinh nghiệm lạ lùng. Có nhà triết học cho rằng đây là kinh nghiệm vực thẳm, chỉ gặp một lần trong đời đã là quá nhiều. Vì
nó sẽ gieo vào ta một thứ ánh sáng mới để nhìn vào cuộc tồn tại. Hoặc nó làm ta
bi quan, hoặc nó sinh thành nơi ta một cảm thức khác thường về cuộc sống. Nàng
ở trong trường hợp thứ hai.
Ta
có thể cảm nhận được nỗi xao xuyến của người phụ nữ về sự sống nói chung và sự
sống của chính nàng sau buổi thăm bệnh. Ta có thể thấy nàng đang khác đi, tinh
tế hơn, và nhạy cảm xiết bao. Nàng im lặng và thao thức. Rồi nàng cũng bật ra
nỗi lo nghĩ về con hà mã con trong vườn thú, không biết nó có an toàn không.
(Vì nàng sắp có con chăng?)
Sự
sống trong liên hệ với sự chết - một vấn đề không thể tát cạn. Nhưng Vũ Thành Sơn
không triết luận ồn ào. Anh chỉ làm công việc của nhà văn: dựng lên hai cảnh tượng
tương phản. Một cảnh tượng ảm đạm lôi thôi người và đồ vật trong sự nhọc nhằn
kháng cự cái chết, và một “cảnh tượng mới đẹp làm sao!”: hai mẹ con hà mã đang đùa
giỡn dưới hồ.
(Về
truyện ngắn Tất cả những điều đó)
Cái
chết, đau bệnh, mất tích, chia tay…những sự biến vốn thường khởi sự cho kịch
tính, thậm chí là lý do tồn tại, của văn chương, thì trong truyện ngắn của Vũ
Thành Sơn cũng chỉ là những chi tiết bình thường như những chi tiết khác trong
thực tại. Như người ta ăn xong một bữa ăn, làm xong một công việc, tan sở làm,
rời khỏi xe buýt… Chúng xuất hiện khá nhiều trong các truyện để cho độc giả tập
dửng dưng với chúng, như chính sự quan sát của các nhân vật: “chiếc xe bất thần
bị chổng ngược, quay vòng vòng rồi lật ngửa…chẳng khác gì một con gián bị lật
ngửa.” Một tai nạn làm chết một người quen biết mà lại được “đón nhận” một cách
khách quan sinh động như thế nói lên điều gì?
Có
lẽ nó biểu thị rằng cuộc sống tinh thần của các nhân vật đã được thu giảm thành
những chủ thể tri giác cộng với chút hồi ức về những dữ kiện thu thập được hằng
ngày. Và vì thế, những trang truyện của Vũ Thành Sơn được lấp đầy dần bởi thế
giới vật chất, ngoại cảnh. (Chúng khác hoàn toàn, chẳng hạn, với những trang
sách của Marcel Proust, dày dần lên bởi dòng ý thức, cảm xúc, cảm giác chủ quan
của các nhân vật.) Người đọc truyện ngắn Vũ Thành Sơn dễ có cảm giác nặng nề
như thể hiện thực đang được gia bội lên một lần nữa. Cái tâm thế muốn đào thoát
thường thấy nơi độc giả khi đọc văn chương hư cấu bị bức tường thành miêu tả
thực tại chắn ngang. Tác giả giữ chúng ta lại trong thế giới này để uống cho
cạn cho hết cõi hiện thực thường khi nhàm chán, chỉ năm thì mười họa mới cống
hiến cho ta chút vẻ đẹp phù du.
Nhân vật trong các truyện ngắn này đã mở hết biên độ cảm
quan của mình để ghi nhận “cõi đời” người khác; ngắm nghía đến tận các sự vật
nhỏ nhặt nhất, gần như không bỏ sót một cái gì. Đó không còn là thế giới hiện tượng
ngẫu nhiên lộn xộn, nhưng do chính con người sinh ra, mang hơi ấm hay sự buốt
giá của từng người, và nó gắn liền mãi mãi với cuộc đời của từng người. Nhưng hầu
như người này không thể biết gì về người kia cho đến khi một trong hai biến mất
(chết hay mất tích) hoàn toàn. Phải chăng họ, cũng như tất cả chúng ta, không có
phương tiện nào để hiểu được tâm hồn người khác mà chỉ có chút rung động mơ hồ
trước những biến cố của họ? Và “người khác” mãi mãi là một kẻ xa lạ? Hay phải chăng, để cứu vãn chút gì đó, ta hãy đắm chìm vào
thế giới đồ vật bao quanh một người vì nó là tất cả cuộc sống của người ấy, nhìn
từ bên ngoài?
Các
nhân vật (hay chính tác giả) không hề phán đoán giá trị đạo đức. Không nghe
thấy họ nói về tốt-xấu, thiện-ác. Họ cũng không phán đoán giá trị thẩm mỹ.
Không thấy họ nói về đẹp hay xấu, dù chung quanh họ lúc nào cũng đầy ngoại
cảnh, như chúng ta đã biết.
À,
có một lần, một lần duy nhất (với cái dấu chấm than (!) duy nhất trong tập
truyện) chúng ta thấy nhân vật của anh kêu lên: “Cảnh tượng ấy mới đẹp làm sao!
Nàng bấu chặt lấy cánh tay anh nhìn không chớp mắt.” (Trang 92). Đó là lúc con
hà mã mẹ địu trên lưng chú hà mã con, trồi lên từ một vũng nước. Trớ trêu là cảnh
tượng ấy không thuộc về thế giới của con người, để chúng ta yên tâm nói rằng nó
là một nét (đẹp) nhân văn.
Không
ít nhà văn hiện đại đã và đang đề cập đến sự lưu lạc của con người ngay trên
vương quốc do chính mình xây dựng nên. Nhưng bút pháp và cách sử dụng ngôn từ điêu
luyện để thể hiện điều đó chính là cái làm nên sự khác biệt của Vũ Thành Sơn. Có cảm giác tác giả ước muốn
đạt đến những lý tưởng về sự mạch lạc, duy lý và sự hoàn thiện của kỹ thuật,
điều mà Borges, nhà văn vĩ đại người Argentina suốt đời viết truyện
ngắn, đã gần như làm được.
29/5/2011
M.S.