
Sorj Chalandon – giải của Viện Hàn lâm |
Tiểu thuyết Pháp - Văn hóa IrelandMở đầu, giải của Viện Hàn lâm Pháp (có từ 1915) đã về tay Sorj Chalandon (sinh 1952) với cuốn Trở về Killybegs (Retour à Killybegs).
Là phóng viên từng giành giải báo chí Albert Londres 1988 về những
phóng sự chiến trường và nhiều điểm nóng của hành tinh (Afghanistan,
Iraq, Somalia), Sorj Chalandon gia nhập làng văn bằng tiểu thuyết đầu
tay xuất bản năm 2005, đến tác phẩm thứ hai - tiểu thuyết Một lời hứa
- đã giành giải Médicis năm 2006. Sau đó, với hành trang một phóng viên
điều tra nhiều năm tại đảo quốc phía tây nước Anh, nhà văn đi vào đề
tài cuộc chiến ở Bắc Ireland: tiểu thuyết Kẻ phản bội của tôi
với nhân vật chính Tyrone Meehan được xây dựng từ nguyên mẫu Denis
Donanson - một thủ lĩnh của đảng Cộng hòa ở Bắc Ireland (IRA) chống lại
sự chiếm đóng của quân đội hoàng gia Anh, nhưng do thời cuộc xô đẩy, lại
làm điệp viên nằm vùng phục vụ ngành tình báo Anh nên bị giết năm 2006.
Tiếp tục theo đuổi đề tài đó, Trở về Killybegs không kể lại
hành trình đấu tranh, mà đi sâu vào nội tâm của nhân vật Tyrone Meehan:
đây chính là bản tự thú của một người hùng kháng chiến sau đó thành kẻ
phản bội để phải hằng ngày nghe người đời nguyền rủa. Tác giả vừa kỹ
lưỡng miêu tả hình tượng một con người ghê tởm, vừa say mê diễn đạt
những đặc sắc văn hóa dân tộc Ireland. Chính phẩm chất này đã chinh phục
các vị Viện sĩ vốn chỉ ưa những gì thuần Pháp để nhận giải “tiểu thuyết
Pháp hay nhất trong năm”, mặc dầu ở ngay trên bìa cuốn sách có địa danh
Anh (Killybegs là một thị trấn nằm ven bờ biển phía bắc Ireland, nơi
sinh trưởng của nhân vật chính).
Nhắn gửi đến người đã khuấtNgày 4.11, giải Médicis đã vinh danh cuốn tiểu thuyết Ý nghĩa của tình thương (Ce qu’aimer veut dire) của Mathieu Lindon (sinh 1955 tại thành phố Caen), một nhà phê bình văn học hiện làm việc cho tờ Liberation
và đã viết khoảng hai mươi tác phẩm. Cuốn sách được giải là hồi ức về
người cha, xuất bản gia, và về người đỡ đầu là triết gia đã sớm qua đời ở
tuổi 53 vì căn bệnh thế kỷ SIDA. Cả hai con người đó - một người cha
đẻ, một người cha tinh thần - hết sức khác nhau trong cách sống, cách
nghĩ và nhất là cách biểu hiện tình thương của họ đối với những người
xung quanh, nhưng để lại ảnh hưởng sâu đậm trong tác giả. Giọng văn chân
thành, mộc mạc diễn đạt thật sát những “tiếng thầm trong tim”, Ý nghĩa của tình thương
là lời nhắn nhủ gửi đến những người đã khuất mà khi được sống gần, tác
giả đã bỏ lỡ cơ hội nói ra. Ngoài giải tiểu thuyết tiếng Pháp, ban giám
khảo Médicis năm nay còn tặng giải tiểu thuyết nước ngoài xuất sắc cho
tác phẩm Une femme fuyant l’annonce của nhà văn David Grossman (Israel).

Simon Liberati - giải Femina |
Số phận bi thảmNgày 7.11, Simon Liberati (sinh 1960) lên nhận giải Femina nhờ cuốn tiểu thuyết Jayne Mansfield 1967
tái hiện số phận bi thảm của Jayne Mansfield - một mỹ nhân có mái tóc
vàng, thân hình rực lửa, tuy thông minh và nhạy cảm nhưng cũng không
thoát khỏi ràng buộc hợp đồng độc quyền với hãng sản xuất phim Fox và,
trong cuộc cạnh tranh với thần tượng Marilyn Monroe đã bị cuốn vào guồng
máy công nghiệp điện ảnh Hollywood để đến nỗi phải chết thảm giữa tuổi
ba mươi tư vì tai nạn giao thông. Cùng ngày, Ban Giám khảo giải Tháng
Chạp (Décembre) đã làm bước đột phá đầu tiên kể từ năm thành lập (1989):
vinh danh cùng lúc hai tác giả đồng hạng nhất: Jean-Christophe Bailly -
về tiểu thuyết Ngỡ ngàng - những chuyến đi trong lòng nước Pháp (Le Dépaysement: voyages en France) và Olivier Frébourg - tiểu thuyết Gaston và Gustave (Gaston et Gustave).
Suy nghĩ về những cuộc chiến
Thực
tế cho thấy những giải thưởng trên như khúc dạo đầu và khúc vĩ thanh
cho hai giải quan trọng vừa trao ít ngày trước. Đó là giải Renaudot
thành lập năm 1926 nhằm “so đọ” với giải thưởng uy tín nhất mang tên anh
em Goncourt (có từ 1903), và được trao hầu như đồng thời. Ngày 2.11,
nhà văn Emmanuel Carrère nhận giải Renaudot về tiểu thuyết Limonov
với nhân vật trung tâm là Eduard Limonov - một nhà văn Nga sống và viết
ở Pháp những năm 1980, sau về nước trở thành chính khách. Thực lòng
chẳng mấy cảm tình với nguyên mẫu, nên tác giả không chọn cách viết theo
kiểu tiểu sử thông thường, mà hư cấu thành truyện lịch sử chính luận,
khắc họa khách quan một nhân vật khi thân thiện, khi phản cảm. Chính
nguyên mẫu Eduard Limonov sau khi đọc tiểu thuyết Limonov cũng phải công nhận rằng Emmanuel Carrère là một cây bút “lịch lãm kiểu tư sản”.

Emmanuel Carrère – giải Renaudot |
Và,
trong bữa tiệc trưa, cũng ngày 2.11, tại khách sạn Drouant, Paris, mười
viện sĩ của Viện Goncourt đã tiến hành phiên họp cuối cùng, mỗi người
chỉ được bỏ một phiếu cho cuốn tiểu thuyết mà mình cho là hay nhất, và
trong trường hợp cần phân định rành mạch thì lá phiếu của chủ tịch Viện
được tính giá trị gấp đôi. Song năm nay đã không cần đến cách tính này,
vì ngay từ vòng đầu, với tỷ lệ 5/3, giải thưởng văn chương Pháp quan
trọng nhất đã thuộc về Alexis Jenni (sinh năm 1963) với cuốn tiểu thuyết
mang nhan đề như một công trình nghiên cứu Nghệ thuật quân sự Pháp (L’Art francais de la guerre). Tác phẩm này đã thắng trong cuộc so tài cuối cùng với Trở về Killybegs của Sorj Chalandon (đã bằng lòng với giải của Viện Hàn lâm) và Tình người tuyệt diệu (La belle amour humaine) của Lyonel Trouillot.
Tiểu thuyết Nghệ thuật quân sự Pháp
được hình thành từ lời kể của nhân vật Victorien Salagnon - một cựu
binh viễn chinh, về sau trở thành họa sĩ - nhằm tái hiện chân dung của
một đội quân thực dân trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, những sự
kiện và bài học quan trọng nhất của nó ở các chiến trường Đông Dương,
Algeria… Bút pháp cổ điển, Alexis Jenni dẫn người đọc vào thế giới của
sử thi, đưa ra những suy ngẫm về “bản sắc dân tộc Pháp” và tìm hiểu vì
sao thuộc địa vẫn còn ám ảnh trong tâm thức những người Pháp hoặc can
dự, hoặc chứng kiến các cuộc viễn chinh. Giới phê bình văn học Pháp nhận
định đây là “bức bích họa lịch sử, bao trùm cả Đông Dương, cả Algeria
và chạm đến các vấn đề di sản thuộc địa”. Nhà văn Morocco nổi tiếng
Tahar Ben Jelloun - từng được giải và hiện là thành viên ban giám khảo
Goncourt – nhận xét Nghệ thuật quân sự Pháp là một “tác phẩm
văn học lớn động chạm đến lịch sử của nước Pháp… Nhờ Alexis Jenni mà
hàng triệu người trẻ tuổi sẽ suy nghĩ về các cuộc chiến ở Đông Dương, ở
Algeria, và ở Pháp ngày nay”. Và Bernard Pivot - một thành viên khác
trong Ban Giám khảo – cũng khen đây là cuốn tiểu thuyết “sáng tạo, thú
vị, say mê, siêu hạng”. Tác giả đã mô tả những biện pháp được nước Pháp
đưa vào sử dụng trong thời gian xung đột vũ trang là “mang tính
Đôngkisốt và kém hiệu quả” và không giấu những quan điểm cá nhân còn
phải bàn cãi ít nhiều.

Alexis Jenni – giải Goncourt |
Chàng
tân binh trong hàng ngũ những người được giải Goncourt danh giá (gần
đây có Michel Houllebecq và Jonathan Littell, và trước đó có những đại
danh như Marcel Proust và Simone de Beauvoir) vốn là một thầy giáo dạy
môn sinh học tại thành phố quê hương Lyon. Alexis Jenni đứng lớp chỉn
chu và thực sự chỉ viết văn vào chủ nhật. Để đến với người đọc và bây
giờ giành giải thưởng Goncourt, tác giả đã phải viết lại cuốn sách này
ba lần trong vòng năm năm mới được Nhà xuất bản Gallimard ấn hành thành
632 trang và liền bán hết 56.000 bản.
Điều
lý thú là trong 25 năm qua, các giám khảo giải Goncourt mới có ba lần
đặt niềm tin vào tác phẩm đầu tay, trong đó hai tác giả mới đã khai thác
chất liệu từ những cuộc chiến diễn ra khi họ chưa ra đời: lần gần đây
nhất, năm 2006, nhà văn trẻ Jonathan Littel (sinh năm 1967) hưởng vinh
dự này nhờ cuốn tiểu thuyết Những kẻ thiện tâm (Les Bienveillantes) cũng thuộc thể loại lịch sử chiến tranh, về chế độ Đức Quốc Xã.
Và
cũng theo thông lệ, tác phẩm nhận giải Goncourt chỉ mang đến cho tác
giả khoản “tiền tươi” đúng 10 đồng euro, giá trị không quá 300.000 đồng
tiền Việt, nhưng kéo theo nhuận bút của không dưới 400.000 cuốn tái bản.