 |
| Hà Giang |
Ảnh: Nguyễn Quang Tuấn |
Suốt
mười thế kỷ trước đó, gạn đến hết mức, số tác giả nữ lưu danh trong thơ
ca Việt Nam có lẽ không quá số ngón trên hai bàn tay. Nhưng chỉ với
trên một thập kỷ Thơ Mới, căn cứ theo sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm
(NXB Hội nhà văn, 2004), đã có tới gần mười lăm nhà thơ nữ. Xét theo
tương quan giữa độ dài thời gian và lượng tác giả, thông số nêu trên
không phải không có ý nghĩa.
Nó cho
thấy rõ ràng là xã hội Việt Nam, dưới tác động của sự gặp gỡ với phương
Tây - “cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế
kỷ”, chữ của Hoài Thanh - đã thay đổi, đã mở rộng các điều kiện để nữ
giới có thể được học hành, tiếp cận văn chương, tập sáng tác và công bố
sáng tác văn chương của mình rộng ra trong đời sống. Chữ quốc ngữ,
trường nữ học, báo chí và nhà xuất bản chính là những điều kiện rất
thuận lợi như vậy. Nhưng phải nói ngay rằng những điều kiện thuận lợi đó
không chỉ làm cái việc duy nhất là đưa các tác giả nữ “thêm vào” ngôi
đền thiêng thơ ca - như một phép cộng số học đơn giản. Trong một vài
trường hợp nhất định, các tác giả nữ của Thơ Mới còn làm được nhiều hơn
thế.
Trước hết là trường hợp tác giả
Nguyễn Thị Manh Manh, tức Nguyễn Thị Kiêm (sinh năm 1914, không rõ năm
mất). Những năm 1930, bà làm việc tại tòa soạn báo Phụ nữ tân văn ở Sài
Gòn. Bà là một trong số những cây bút đầu tiên làm thơ theo lối mới và
đã nhiều lần đăng đàn diễn thuyết để bênh vực cho thơ mới. Sách Thơ Mới 1932 - 1945, tác giả và tác phẩm có tuyển bốn bài thơ của bà: Viếng phòng vắng, Canh tàn, Bức thư gởi tất cả ai ưa hay là ghét bỏ lối thơ mới, Bà La Fugie, nhà thám hiểm và họa sỹ. Trong số đó, bài Viếng phòng vắng
- bài thơ đầu tay của bà - mang đậm dấu vết của một thể loại thơ cổ, ấy
là từ khúc. Bài Canh tàn là một thể nghiệm (còn xa mới nhuần nhuyễn)
của thơ năm chữ. Hai bài còn lại, mượn cách nói của Hoài Thanh, phải gọi
là “một cuộc xâm lăng của văn xuôi” trong địa hạt thơ. Thế nhưng, nếu
không dừng lại ở việc thưởng thức, mà đẩy xa hơn, tức là tìm hiểu và cắt
nghĩa, ta sẽ nhận thấy Nguyễn Thị Manh Manh là người có công với Thơ
Mới. Nội việc một người đàn bà, ở cái xứ và vào cái thời mà truyền thống
coi nhẹ nữ giới vẫn còn rất nặng căn, dám chường mặt ra trước công
chúng để diễn thuyết, để hô hào cổ súy, đó đã là sự lạ. Mà lại là diễn
thuyết cổ súy cho “thơ mới”, thứ thơ lần đầu tiên xuất hiện và đang chịu
không ít sự dè bỉu, thậm chí ác cảm, từ những tác giả đại diện cho “thơ
cũ” có bề dày cả nghìn năm, thì đó là sự lạ nhân đôi. Cuộc diễn thuyết
của bà vào ngày 26.7.1933 tại Hội Khuyến học Sài Gòn đã khai màn cho một
loạt cuộc diễn thuyết tiếp theo, trong khoảng 1934 - 1936, của Lưu
Trọng Lư, Đỗ Đức Vượng, Vũ Đình Liên, Trương Tửu. Cộng với sự hưởng ứng
của báo chí, các cuộc diễn thuyết này quả thực đã khơi dậy làn sóng sáng
tác và thưởng thức thơ theo lối mới một cách mạnh mẽ, góp phần dẫn đến
sự toàn thắng của Thơ Mới. Nhưng khá đặc biệt là khi thơ mới vẫn đang
trong cuộc chiến “cù cưa” với thơ cũ, thì trên Phụ nữ tân văn số ra ngày
14.12.1933, Nguyễn Thị Manh Manh lại cho in bài Bức thư gửi tất cả ai ưa hay là ghét bỏ lối thơ mới,
thể hiện một cái nhìn khá “thân ái” với thơ cũ, bênh thơ mới nhưng
không theo cách quyết liệt tranh thắng cho bằng được. Tốt nhất, chúng ta
hãy đọc những câu cuối của bài (thật khó có thể gọi là thơ) này: “Kết
luận chuyện mới gần thành chuyện cũ/ Các bạn ơi, cãi với nhau thét đã
nhàm rồi/ Làng thơ, thơ mới, thơ cũ, có đủ/ Thơ xưa là đất cũ, thơ nay
tỉ đất bồi/ Đất trước để yên, đất sau lo xới / Đất mới thì ít khô khan
hơn đất đã dụng rồi/ Rủ nhau khai phá, cất thêm sở mới/ Nếu thật tình
mong cây thơm mọc nhánh đâm chồi/ Bây giờ tôi thử khuyên khách làm thơ/
Đổi lại, ai ưa thơ mới lo tìm chỗ dở/ Ai ghét, rán kiếm cái hay của thơ/
Vậy, chê khen có giá trị, hoa mới sẽ nở”. Nói gọn, ít nhất, với
Nguyễn Thị Manh Manh, phải ghi nhận rằng trong sự thành công của Thơ Mới
là có phần đóng góp không nhỏ của người cầm bút thuộc “phái khăn yếm”.
Vào
thời điểm cực thịnh của Thơ Mới (ước định trong khoảng từ 1937 đến
1941), phía tác giả nữ có một cái tên đáng chú ý: Anh Thơ. Bà là người
được giải khuyến khích về thơ của Tự lực văn đoàn vào năm 1939, với tập Bức tranh quê.
Cần phải nhớ rằng giải Tự lực văn đoàn là một giải thưởng văn chương
vào loại danh giá nhất thời bấy giờ. Và việc văn đoàn Tự lực, vốn rất
quan tâm đến các vấn đề về nông thôn Việt Nam, trao giải cho tập thơ của
Anh Thơ, thì hẳn là “phải có ý gì”? Câu trả lời nằm ở chính nhan đề của
tập thơ - một vùng đề tài đã được “quy hoạch”: đó là làng quê Việt Nam
với tất cả dáng vẻ và sự sống động của nó trong không gian, qua thời
gian. Có thể nói, Bức tranh quê của Anh Thơ đúng là... bức
tranh quê. Nghĩa là tất thảy những gì thuộc về cảnh sắc, con người, sinh
hoạt của làng quê lọt vào tầm mắt người thiếu nữ đôi mươi thì đều được
bà tả lại đầy đủ, tỉ mỉ, theo kiểu một nhà dân tộc học đang tiến hành
ghi chép tư liệu điền dã. Thế nhưng, cũng có những lúc Bức tranh quê lóe
sáng, như sự ghi nhận của Hoài Thanh: “Thơ không cốt tả mà cốt gợi,
gợi cảnh cũng như gợi tình. Cho nên mỗi lần Anh Thơ chịu đi ra ngoài
lối tù túng đó để nhìn cảnh vật một cách sâu sắc hơn, lời thơ bỗng trở
nên rộng rãi không ngờ và ta thấy khoan khoái biết bao. Sau câu thơ ta
mơ hồ thấy một cái gì: có lẽ là hồn thi nhân”. Hoài Thanh chỉ dẫn ra năm ví dụ, nhưng trên thực tế, nếu đọc kỹ Bức tranh quê, khó tính mấy thì cũng phải nhận rằng những câu thơ hay như “Hoa mướp rụng từng đóa vàng rải rác / Lũ chuồn chuồn nhớ nắng ngẩn ngơ bay”
nhiều hơn thế gấp nhiều lần. Chúng rải suốt tập thơ, tạo thành những
điểm nhấn ấn tượng trên nền của một thứ thơ tả chân nhàn nhạt. Dù sao đi
nữa, chính thứ thơ tả chân ấy có lẽ cũng góp phần khiến thơ của Anh Thơ “biệt hẳn ra một lối” (Hoài Thanh). Và nhìn trong toàn bộ phong trào Thơ Mới, nếu không có một Thôn ca của Đoàn Văn Cừ làm đối trọng, thì hẳn Bức tranh quê của nữ thi sỹ Anh Thơ đã độc chiếm danh vị “một ghi chép dân tộc học bằng ngôn ngữ thi ca” về làng quê Việt Nam trước 1945!
Nếu
thơ của Anh Thơ mang nồng hơi thở đồng nội, thì thơ của Ngân Giang
lại... đậm hương phấn sáp! Ngân Giang (1916 - 2002) ngay từ nhỏ đã được
học chữ Hán và rất yêu thích thơ Đường. Mười ba tuổi bà đã có thơ đăng
trên tờ Trung Bắc tân văn. Mười sáu tuổi bà cho ra mắt tập thơ đầu tay Giọt lệ xuân,
bút danh Hạnh Liên. Tình ái, nhất là những mối tình dang dở bất hạnh,
đó là nguồn mạch chủ yếu trong thơ Ngân Giang. Và ở lãnh địa này, theo
chủ quan của tôi, Ngân Giang xứng đáng được coi là tác giả xuất sắc nhất
trong số các nữ thi sỹ của Thơ Mới. Các tác giả Nguyễn Vinh Phúc và
Đặng Thị Hảo nhận định: “Thơ tình của bà có nỗi cô sầu thăm thẳm của
hơi thơ cổ điển, lại có cái duyên nồng nàn lãng mạn của giọng điệu Thơ
Mới nên thực sự hấp dẫn” (Dẫn theo Từ điển văn học, bộ mới, tr1050). Điều lạ là trong Thi nhân Việt Nam
không có bà, dẫu chỉ là một cái tên được gọi ra chứ không có thơ được
tuyển, như trường hợp của Trần Huyền Trân, cũng không có! Chúng ta nhớ
lại: khi viết về Mộng Tuyết, Hoài Thanh có ý khen rằng trong thơ Mộng
Tuyết có một người đàn bà thứ thiệt, chứ không phải một người đàn bà do
trí tưởng của thi nhân đàn ông tạo ra, rằng nó có vẻ yêu kiều riêng mà
ngòi bút đàn ông khó viết ra được. Lời khen ấy giá mà được “dán” vào thơ
Ngân Giang, thiết nghĩ sẽ có phần đích đáng hơn. Tốt nhất là chúng ta
hãy đọc lại bài Trưng Nữ Vương nổi tiếng của bà, viết năm 1939: “Thù
hận đôi lần chau khóe hạnh/ Một trời loáng thoáng bóng sao rơi/ Dồn
sương vó ngựa xa non thẳm/ Gạt gió chim bằng vượt dặm khơi/ Ngang dọc
non sông đường kiếm mã/ Huy hoàng cung điện nếp cân đai/ Bốn phương gió
bão dồn chân ngựa/ Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai/ Máu đỏ cốt xương thù
vạn cổ/ Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai/ Hồn người chín suối cười an
ủi/ Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi/ Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận/ Non
Hồng quét sạch bụi trần ai/ Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận/ Gót
ngọc gieo hoa ngắt mấy trời/ Ải bắc quân thù kinh vó ngựa/ Giáp vàng
khăn trở lạnh đầu voi/ Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi
trời bóng lẻ soi”. Bài thơ đẹp một cách sang trọng, cổ kính, và
cũng thấm đẫm tình. Cái tình của một bà hoàng - góa phụ. Cái tình của
một nữ vương ý thức rất rõ quyền uy của mình, niềm kiêu hãnh của mình,
trách nhiệm của mình, sự mất mát đau đớn của mình. Vừa mới làm bạt vía
quân thù nơi ải Bắc, nữ vương đã thấm ngay cái lạnh của tấm khăn tang
(khăn trở) trên đầu. Hai câu kết: “Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá/ Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ soi” quả là một lời cảm thán bất giác đầy chất... “chị em”, dường như không một đấng tu mi nào có thể viết như thế được!
Từ
sau năm 1945, càng lúc các tác giả nữ xuất hiện càng nhiều hơn trên thi
đàn Việt Nam. Đó là điều đáng mừng. Nhưng đôi khi “nhiều” dễ dẫn đến
“nhạt”. Những khi ấy, có lẽ ta nên nhìn lại “một thời đại trong thi ca”,
đọc lại tác phẩm của “nửa kia” của Thơ Mới. Và nghĩ tới câu “quý hồ
tinh...”?