Ý tưởng của Bill Gates không phải là muốn kết liễu thứ văn
học như ta hằng biết, song ông ta thật sự tin rằng máy tính có thể đảm nhiệm
một cách hoàn hảo tất cả chức năng của một cuốn sách. Tôi tin điều đó đúng khi
ta nói về thông tin, nhưng lại sai khi ta nói về văn học, vì việc đọc một tác
phẩm văn học cần đến một góc riêng, một khoảng lặng thân thiết – điều đó sẽ
không còn nữa khi chúng ta ngồi đối diện màn hình vi tính. Nếu sách biến mất,
văn học sẽ được truyền qua màn hình máy tính, sự riêng tư, gần gũi, theo đó, sẽ
bị mất mát ít nhiều. Thông tin sẽ nhiều hơn song sẽ tính sáng tạo lại ít hơn.
Một thứ văn học như thế cũng sẽ phải chịu quá trình trở thành một cái gì đó
chung chung, thiếu bản sắc – ở đây chưa nói đến sự xơ cứng, nghèo nàn – một căn
bệnh đã lây nhiễm lên lĩnh vực truyền thông vốn dựa vào hình ảnh thị giác khi
những hình ảnh này ngày càng được phổ biến. Nó sẽ không thể nào tạo ra được một
César Vallejo, T.S Eliot hay André Breton bởi vì nó sẽ hoàn toàn thủ tiêu bất
cứ những thể nghiệm sáng tạo nào đối với ngôn từ của văn bản. Tôi vẫn không tin
rằng ý tưởng của Bill Gates đến một lúc nào đó có thể trở thành hiện thực được
nhưng cuối cùng thì vẫn phải thấy sự thật này: những cuốn sách cứ dần dần trở
nên ít thích đáng hơn cho đến khi thứ văn học được biểu đạt bằng những hình ảnh
máy tính thấy ngán ngẩm trước tình trạng số đông công chúng của nó cứ tăng lên
đều đặn. Trong một cảnh tượng tồi tệ nhất, công chúng của văn học có thể chỉ
còn là bộ phận thiểu số mà bộ phận ấy cuối cùng sẽ giống như một thứ hội kín
quan trọng của những “thầy hướng đạo văn chương” (literary catechists), những
người sẽ duy trì đời sống văn học gần như một hoạt động dưới ngầm.
Borges đã từng có một
thái độ xem thường tiểu thuyết đến mức ông có lần phát ngôn rằng cuốn Trăm năm
cô đơn của Garcia Marquez đáng ra chỉ nên nói là năm mươi năm thôi. Ông nghĩ
Borges sẽ cảm thấy thế nào khi giờ đây, các biên tập viên tỏ ra không mấy mặn
mà với thể loại truyện ngắn? Ông có thấy truyện ngắn, một thể loại của thế kỷ
XIX, nay đang đứng trên bờ tuyệt chủng trong thế kỷ XXI không?
Không, tôi nghĩ truyện ngắn vẫn đang sống, sống khoẻ nữa là
đằng khác. Một số nhà văn viết truyện ngắn vẫn được đánh giá thuộc vào hàng
những tác giả có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ XX và thực tế thì Borges chính là
ví dụ tốt nhất về điều này xét trong văn chương Mỹ Latinh. Nhưng chúng ta còn
có Cortázar, Rulfo và Onetti nữa. Tôi
cho rằng thái độ của Borges đối với tiểu thuyết là một thái độ xem
thường hơn là phủ nhận sạch trơn vì ông luôn coi tiểu thuyết chỉ như một thể
loại hạng hai. Xét trong phạm vi sáng tác của Borges, điều này hoàn toàn có thể
hiểu được. Ông là một tác giả chỉ chấp nhận sự hoàn thiện và ở tiểu thuyết, sự
hoàn thiện là bất khả bởi lẽ bản chất của nó gắn chặt với việc biểu hiện thân
phận con người giữa những đảo lộn xã hội. Nó cho chúng ta thấy rõ chúng ta cách
xa như thế nào với ước muốn đạt đến những lý tưởng tuyệt đối về sự mạch lạc,
duy lý và sự hoàn thiện của kỹ thuật, điều mà, ở một chừng mực nào đó, ta có
thể thấy được trong thơ và truyện ngắn. Borges muốn vươn đến cấp độ hoàn thiện
ấy trong các truyện ngắn của ông, một sự hoàn thiện gần như mang tính hình học,
tựa một đường tròn liền mạch. Tham vọng về sự hoàn thiện đó cấu thành nên mục
đích của nghệ thuật thuần túy, không chút tì vết trong cấu trúc cốt truyện hay
cách sử dụng ngôn từ. Mối ác cảm theo bản năng của Borges đối với tiểu thuyết
nên được hiểu sâu sắc như là thái độ phủ nhận sự bất toàn.
Theo ông, trong số
những cuốn tiểu thuyết của thế kỷ này được giới phê bình hoan nghênh nhiều
nhất, những cuốn nào có thể sẽ bị kết án là thứ văn chương tối tăm, không thể
nào hiểu được?
Tôi nghĩ sẽ dễ hơn nếu ta nói đến những cuốn tiểu thuyết đã
vượt qua thử thách của thời gian và sẽ còn tiếp tục song hành cũng chúng ta
trong tương lai. Chẳng hạn, Ulysses của Joyce luôn là một ví dụ thích đáng: nó
giới thiệu một ngôn ngữ tự sự mới cho phép độc giả thăm dò những chiều sâu của
ý thức con người. Đi tìm thời gian đã mất của Proust sẽ còn tồn tại lâu dài như
một nhà thờ. Cũng có những tiểu thuyết gia như Faulkner, giờ đây đã trở nên đại
chúng hơn so với thời kỳ khi ông bắt đầu viết những tiểu thuyết của mình: để
xây dựng những thế giới khác nhau, ông đã sáng tạo nên một công cụ vừa mô phỏng
hiện thực vừa tiếp tục đem đến một không gian rộng rãi cho phép mở ra các chiều
sâu, khơi gợi sự mơ hồ, bí ẩn và tạo nên những trạng thái căng thẳng, mãnh liệt
trong một tác phẩm hư cấu. Chúng ta cũng có những nhà văn mà ngay nay không còn
được đọc nhiều, như Malraux: cuốn Thân phận con người của ông phải được xem là
một trong những tiểu thuyết lớn nhất của thế kỷ này nhưng giờ đây nó không có
nhiều độc giả như nó xứng đáng được nhận. Ở một chừng mực nào đó, con người
chính trị của Malraulx đã chống lại con người nhà văn ở ông và điều đó đã khiến
ông mất đi độc giả. Sartre là một ví dụ khác về một nhà văn đã từng được đọc
rộng rãi nhưng khi thời gian qua đi, lại trở nên nhạt nhòa: những tiểu thuyết
của ông giờ đây trở nên rất khó đọc, và bất cứ ai đọc chúng một cách kỹ lưỡng
sẽ nhận ra ở đó không có gì thật sự sáng tạo, chúng chịu ảnh hưởng rất nhiều từ
những nhà văn đi trước như Dos Passos. Đối với các nhà văn hiện nay, quan điểm
của Sartre về văn chương dường như là một thứ quan điểm duy tâm và tự mãn. Hầu
như chẳng có mấy người viết bây giờ chấp nhận với ý tưởng cho rằng văn chương
có thể làm thay đổi lịch sử hay có một vai trò nào đó trong việc cải hóa đời
sống chính trị.
Cái thường được coi là
cái chết của ý hệ có liên quan phần nào đến điều ông vừa nói chăng?
Đúng vậy, và trong trường hợp của Sartre, điều đó tạo ra một
hệ quả lớn, nhưng ngay cả sự thiếu nhất quán trong tác phẩm của ông cũng liên
quan đến điều đó nữa. Điều mà Joseph Plà nói về Marcuse cũng đúng với Sartre:
“Ông ấy đã góp phần tạo nên sự rối loạn của thời đại chúng ta. Sự đóng góp đó
dường như không có ai trước có thể sánh được.” Sartre có thể khiến chúng ta tin
vào mọi điều ông viết, bởi cách mà ông duy lý hóa sự vật có thể thuyết phục ta
chấp nhận những thứ nghịch lý và mâu thuẫn nhất như là chức năng hợp lý hóa
những khuynh hướng ý hệ vốn luôn thay đổi bất thường, song chính điều này đã
khiến tác phẩm của ông ngày càng trở nên ít ý nghĩa đối với thế giới hiện nay.
Điều này không xuất hiện ở Camus, người giàu tư chất nghệ sĩ hơn và là một nhà
văn viết tốt hơn. Ở cả phạm vi văn chương lẫn công chúng, những ý tưởng của
Camus vẫn còn nguyên sự thích đáng. Giờ đây, yêu cầu của ông muốn đạo đức phải
chi phối chính trị dường như trở nên chính đáng hơn bao giờ hết. Mặt khác, chủ
nghĩa thực dụng mà Sartre bảo vệ ngay cả khi nó xung đột với các giá trị luân
lý có lẽ đối với chúng ta lại là tín điều cần phải phê phán vì nó đã trao cho
những thiết chế độc tài tồi tệ nhất lớp
vỏ ngụy trang hợp pháp.
Ở thế kỷ XX, tiểu
thuyết đã cách mạng hóa ngôn ngữ văn xuôi. Chúng ta nghĩ ngay đến ngôn từ trong
Ulysses của Joyce, Paradiso của Lezama Lima hay Gran Serião: Veredas của
Guimaraes Rosa. Tuy vậy, khi thế kỷ này lắng lại, tiểu thuyết lại có vẻ như
muốn chiều theo gu đại chúng bao gồm những độc giả không chuyên, ưa sự đơn giản
và những du khách văn học. Phải chăng có hiện tượng ấy đơn giản là vì các nhà
văn đã mỏi mệt trong nỗ lực vươn đến một tác phẩm mang tính toàn thể (novela
total) có thể giải thích và nhào nặn lại toàn bộ cái thế giới trong đó chúng ta
sống và mang một ý nghĩa bất diệt?
Trong một thời đại được đặc trưng bởi chủ nghĩa tiêu dùng và
biến đổi liên tục thế này, đời sống hình như chỉ xoay quanh thời khắc hiện tại
mà thôi, và ý niệm về một tác phẩm toàn thể (novela total), một thứ nghệ thuật
bất tử, có lẽ khó được chấp nhận. Trong quá khứ, nhà văn viết để đạt đến sự bất
tử, để khi ông ta qua đời, thì tác phẩm vẫn còn lại và nhà văn sẽ tiếp tục sống
qua tác phẩm. Tham vọng của nhà văn là được bất tử hóa nhờ một tác phẩm nghệ
thuật hoàn hảo. Bây giờ còn có ai tin vào sự bất tử nữa? Một ý niệm như thế
đang bị thay thế ở khắp mọi nơi bằng nỗi ám ảnh về khoảnh khắc hiện tại. Điều
này đã dẫn đến sự ra đời của một thuật ngữ văn học mới “Văn học nhẹ” (Literature Lite), một thứ văn
học mang tính giải trí hơn là tham vọng đưa đến một sự đánh giá lại có tính
chất đột phá các giá trị đạo đức hay cách mà con người quan niệm về mọi thứ.
Chúng ta cũng không quên văn học được viết từ quan điểm của trường phái, khuynh
hướng chuyên sâu (sectarian or group –specific point of view); vì nó hàm chứa
những yếu tố thú vị phản ánh một tài năng lớn. Song người ta không viết dạng hư
cấu này với chủ ý đập vỡ những biên giới nhất thời để sống vĩnh viễn, như là
trong trường hợp các kiệt tác văn chương. Các tác giả ngày nay nghĩ rằng một
mục đích cao cả như thế là cái gì đó rất ngạo nghễ, tự mãn và không tưởng. Ngày
nay nhà văn hy vọng rằng bằng việc viết về hiện tại, họ có thể thâu nhận một
lượng độc giả lớn hơn để thỏa mãn một tham vọng được thu nhỏ đi rất nhiều: danh
vọng, tiền tài và thành công. Để thu hút công chúng đọc và mua sách ngay trước
mắt. Ai quan tâm ngày mai sẽ ra sao?
Có phải Kafka là nhà
văn biểu hiện tốt nhất những khía cạnh đáng sợ của cái tình thế mà con người
hiện đại đang phải trực diện?
Là một nhà văn, Kafka không thể tách khỏi khái niệm hiện đại
về sự thống khổ hiện sinh. Khi chúng ta đọc ông, chúng ta cảm nhận được nỗi
trống rỗng từ sự ý thức được chính bản thể hữu hạn của mình, sự ngắn ngủi của
đời sống hiện sinh của chúng ta khi so với cái vô cùng, ý thức được chúng ta
bất lực như thế nào khi đối diện với cỗ máy khổng lồ là xã hội và bản thân đời
sống. Kafka, cố nhiên, là một trong những nhà văn nắm bắt tốt nhất tình thế này
theo một phương thức độc đáo, dựa trên những dụ ngôn, truyện kể và tình huống
giàu sức thuyết phục đến mức phi thường vì chúng hiện ra trước mắt chúng ta
trong một hình thức ngôn ngữ và cấu trúc hư cấu đặc biệt phù hợp với một cảm
quan như thế về cuộc sống. Hơn thế, tác phẩm của ông có một sự tương thích
xuyên qua các tình huống cụ thể, các thời đại và các nền văn hóa tưởng như
không có điểm chung nào trên bề mặt. Thế giới của Kafka hiện diện ở Trung Quốc,
Cuba, Peru và ở bất kỳ xứ sở nào, nơi vì những lý do nào đó, con người trở
thành công cụ cho một bộ phận đặc tuyển quyền lực mà con người không cách nào
kiểm soát được và hoàn toàn không được bảo vệ để chống chọi lại thứ quyền lực
đó. Con người buộc phải trở thành những con rối của những thế lực giấu mặt.
Những thế lực ấy có thể là chính trị, ý hệ, hay tôn giáo. Cùng với Joyce và
Proust, chúng ta phải nhắc đến Kafka như là một trong những nhà văn vĩ đại nhất
của thế kỷ XX.
Các nhà văn thế kỷ XIX
dường như trở nên rất nhàm chán đối với chúng ta hiện nay có lẽ là vì vào thời
của họ chưa có ti vi, do đó, nhà văn phải miêu tả mọi thứ trong cuốn sách của
mình. Nay, chúng ta lại lựa chọn một cực khác: thị trường khiến cho một cuốn
sách rất khó có cơ may thành công trừ phi nó được viết với mục đích xác định là
để chuyển thể thành phim. Theo ông thì những phát minh như phim ảnh đã làm thay
đổi văn học như thế nào?
Một hệ quả có thể thấy ngay được đó là ý niệm thời gian trở
nên phức tạp hơn, tinh vi hơn. Khác biệt lớn giữa văn học cổ điển và các tác
phẩm hiện đại nằm ở chỗ trong các tác phẩm hiện đại, thời gian đi rất nhanh,
trôi chảy liên tục, do đó không có đất cho những khoảng tạm nghỉ vô ích. Ảnh
hưởng của một nền văn hóa dựa trên hình ảnh có vai trò đặc biệt quan trọng đối
với cách cảm nhận và biểu hiện thời gian như vậy. Phim dạy cho chúng ta cách nhìn thời gian,
một cách nhìn mà trước khi phim ra đời, con người không thể nào tưởng tượng ra.
Chúng ta sống với một nhịp độ nhanh hơn, do đó, chúng ta viết những cuốn tiểu
thuyết mà ở đó thời gian bị nhòa đi và cốt truyện vận động như trong một không
gian cụ thể: chạy xuôi-chạy ngược, đến rồi đi. Trong quá khứ, mọi sự không xảy
ra như thế bởi lẽ bản thân đời sống cũng không diễn tiến theo cách đó. Cũng
không có một cuộc cách mạng trong việc biểu hiện hình ảnh dẫn đến sự thay đổi
trong cách xử lý thời gian của văn học. Song thật ngây thơ khi nghĩ rằng những
bước tiến về kỹ thuật cũng như thẩm mỹ của văn học hiện đại hoàn toàn không có
liên hệ gì với thời kỳ cổ điển. Không giống như trong công nghiệp, nơi một sản
phẩm mới khi xuất hiện thì đồng thời xóa sạch ký ức về cái cũ, hay như trong
khoa học, nơi hóa học báo hiện giờ khai tử ngành giả kim, sự hiện diện của
Proust không loại trừ được Montaigne cũng như Joyce không làm cho Cervantes trở
thành phế tích của một thời tàn. Đấy là điều tuyệt vời của văn học.
Dostoevsky là một
trong những hình mẫu văn chương có vấn đề không ổn nhất nếu xét trên phương
diện kỹ thuật ở thế kỷ XIX nhưng trớ trêu thay, ông lại là một trong những tác
gia lớn nhất của thời đại đồng thời cũng
là tác giả có sức sống mãnh liệt nhất. Trong số những tác giả của thế kỷ XX,
theo ông, ai là người mà tầm vóc vĩ đại sẽ không suy giảm bất chấp những nhược
điểm về kỹ thuật trong lối viết?
Trong trường hợp này, Pio Baroja có lẽ là cái tên đáng kể
nhất trong nền văn học tiếng Tây Ban Nha. Ông là tác giả của một số lượng đáng
kể các tác phẩm mà ở đó ta có thể bắt gặp nhiều ví dụ rõ nét cho thấy sự thiếu
hoàn thiện về kỹ thuật, sự lỏng lẻo ở bình diện hình thức của lối viết. Điều
tương tự cũng xảy ra đối với Balzac, người thường bị chê trách là viết vội và
không chú ý nhiều đến hình thức. Tuy nhiên, sức mạnh của Balzac chính là ở chỗ
tác phẩm của ông có sức sống bền bỉ. Đương nhiên, nếu người ta hoàn toàn thờ ơ
đối với phương diện hình thức thì điều đó sẽ hủy hoại tác phẩm. Nhưng có những
tác phẩm mang tham vọng tự sự, đi sâu khám phá bình diện nhân tính ở nhân vật,
bối cảnh và những chuyện kể, cho phép chúng mang tính chỉnh thể tự thân, và điều
đó dường như bù đắp phần nào cho những nhược điểm về hình thức văn xuôi. Về
điểm này, Thomas Wolfe là một trường hợp thú vị và ta cũng có thể nhắc đến một
nhà văn có lực viết sung mãn như Balzac.
Ông có xếp Louis –
Ferdinand Céline vào trong nhóm này không?
Céline là một ví dụ lý thú cho thấy một tài năng nghệ thuật
có thể khiến chúng ta khoan dung đối với một số vấn đề nhất định như thế nào,
nghĩa là, khi ta quan sát những nghệ sĩ đó từ một khoảng cách, có thể ta sẽ
phát bệnh bởi những sự oái oăm của họ: sự cố chấp khó chịu, chủ nghĩa Nazism,
tinh thần bài Do Thái. Không một ai có thể phủ nhận Céline là một nhà văn vĩ
đại. Thế giới của ông (như chúng ta nhận thấy trong Journey to the End of the
Night[Hành trình đến tận cùng đêm tối) là một thế giới man dã, thống khổ, ghê
tởm được thể hiện bằng một thứ văn xuôi cũng thống khổ, gây nôn không kém. Bất
cứ một dạng thức tự sự nào khác cũng sẽ khiến cái thế giới ấy trở nên không thể
chịu đựng nổi chính bởi sự thống khổ, đê tiện của nó, và bởi những định kiến phái
sinh theo những dạng thức tự sự đó.
Sự bùng nổ của văn học
Mỹ Latinh đã bị một số người cho rằng không còn là vấn đề đáng quan tâm, theo
đó, nó nên được xem như là sự tính toán của một thị trường do các nhà xuất bản
thống trị thì đúng hơn. Vậy đâu là đóng góp thực sự của khuynh hướng tiểu
thuyết này đối với văn học đương đại?
Tôi không nghĩ tầm quan trọng của nó là phương diện xã hội
học, lịch sử hay địa lý. Những tác gia như Borges, García Márquez, hay Cortázar
được biết đến là vì họ là những nhà văn xuất chúng, đã viết nên những tác phẩm
vừa giàu sức thuyết phục vừa đầy sức sống đúng vào lúc văn chương châu Âu đang
lánh mình vào chủ nghĩa hình thức và thể nghiệm. Vào thời điểm ấy, văn chương
Mỹ Latinh nhìn chung là một thứ văn chương bóng bẩy, giàu hình ảnh và nó chưa
bao giờ có được công chúng bên ngoài khu vực. Hơn nữa, nền văn chương Mỹ Latinh
mới này đã làm mới lại những mối quan tâm của bản thân văn học Mỹ Latinh. Tuy
nhiên, thứ văn chương hư cấu này được biết đến rộng rãi, vượt ra ngoài phạm vi khu
vực là vì nó độc đáo, giàu tính sáng tạo. Tôi không cho rằng nhà văn là cái có
thể sản xuất được. Ở thời chúng ta, có một sự rẽ nhánh giữa những tác phẩm chất
lượng cao, chỉ có một lượng độc giả hạn chế với một thứ văn học gắn với chủ
nghĩa tiêu dùng mà phần lớn là chất lượng nghèo nàn, được sản xuất theo những
xu hướng thời thượng, tuân theo những nguyên mẫu nhất định, nhắm đến một lượng
công chúng rộng lớn. Đấy chính là tấn bi kịch xảy ra đối với nghệ thuật hư cấu.
Một trong những điều tuyệt vời nhất của văn chương thế kỷ XIX là không có sự
lưỡng phân như thế và những nhà văn lớn nhất của thời đại ấy như Dickens chẳng
hạn, cũng được đọc rộng rãi và là một tác giả đại chúng. Văn học đỉnh cao và
văn học bình dân, hướng đến đại chúng đều cùng là một. Những người bây giờ đọc
John Grisham, nếu đặt họ vào thế kỷ XIX, có lẽ họ cũng là những độc giả của
Victor Hugo. Điều xảy ra sau đó là nghệ thuật hư cấu tiếp tục tự đào luyện, đi
vào thể nghiệm hình thức, không ngừng tìm kiếm những cách thức ngày càng phức tạp
hơn để biểu hiện chính mình. Điều đó đã tạo khoảng cách giữa nó với công chúng
mua sách, những người trước đây đã mở rộng vòng tay để đón nhận nó.
Thực sự thì các nhà
văn thuộc trào lưu bùng nổ có cố gắng để tiếp cận gần hơn công chúng hay không?
Không phải tất cả. Có lẽ Trăm năm cô đơn nằm trong số những
thành công lớn nhất, đó vừa là điển hình của thứ văn chương cao cấp vừa được
công chúng đón nhận rộng rãi. Nó vừa nói được một điều gì cốt yếu đối với độc
giả phổ thông đồng thời vừa có sự thông minh về kỹ thuật tiểu thuyết mà những
độc giả tinh tế nhất thường yêu cầu đối với nghệ thuật hư cấu. Song ta không
thể nói như vậy với trường hợp Rayuela [Hopscotch – Nhảy lò cò] hay Paradiso,
đó là những cuốn sách yêu cầu rất nhiều đối với độc giả đến mức một độc giả
trung bình sẽ không bao giờ có thể cảm thụ nổi tác phẩm. Có những cuốn tiểu
thuyết khác trong khi phô diễn sự tinh vi của hình thức nghệ thuật thì đồng
thời cũng cố gắng tạo ra một hư cấu nằm trong tầm đón nhận của độc giả đại
chúng. Chúng ta vẫn có thể đọc Rulfo, vốn cần đến rất nhiều sự tinh tế, tri
thức và cả việc chấp nhận những thách thức mà tác phẩm của ông đặt ra, nhưng
cũng có thể lựa chọn làm một độc giả phổ thông, không cần chú ý nhiều lắm đến
những điều trên, chỉ quan tâm đến những giai thoại ông kể mà thôi.
Ông có thể dẫn chứng
một số trường hợp ngộ nhận bẽ bàng nhất mà giới phê bình mắc phải hay không?
Trường hợp rõ ràng nhất liên quan đến Proust. Gide đã phê
phán nặng nề tập đầu tiên trong bộ Đi tìm thời gian đã mất, cho dù ông là độc giả
mẫn cảm, sâu sắc bậc nhất của văn chương Pháp. Sự phê phán của Gide hoàn toàn
không dựa trên bất cứ thành kiến nào chống lại Proust; đó đơn thuần chỉ là bệnh
cận thị trong văn chương mà thôi. Một trường hợp xấu hổ khác liên quan đến cuốn
El Gatopardo [Con báo] của Tomasi de Lampedusa. Tất cả các nhà xuất bản Italia,
không có ngoại lệ nào, đã từ chối bản thảo của kiệt tác tuyệt vời này, một
trong những cuốn sách thuộc hàng vĩ đại nhất, sáng tạo nhất, có khả năng làm
hài lòng nhất, xứng đáng nhất của thế kỷ XX. Và những người chối từ cuốn sách
này không hề là những người đọc tầm thường, trong đó có cả những nhà văn lớn
như Elio Vittorini, một Sartre của nước Ý vào thời của ông. Ông đánh giá thấp
tiểu thuyết của Lampedusa vì theo ông, nó đã vi phạm những quy luật của lịch
sử, vì nó không thể hiện được một hình ảnh trọn vẹn, đúng đắn, hợp lý về xã
hội. Chỉ một người đã cứu vãn được danh dự cho nền văn học Italia đấy là
Giorgio Bassani, người khẳng định Con báo là một tuyệt tác, nhưng sự khẳng định
đó chỉ được tuyên bố sau khi Lampedusa đã qua đời. Tác giả chưa bao giờ nhìn
thấy tác phẩm của mình được xuất bản, và ông đã chết trong niềm tin rằng mình
đã thất bại trong tư cách một nhà văn.
John J. Winters dịch
sang tiếng Anh
Hải Ngọc dịch
Nguồn: World Literature
Today, Winter 2002, p. 65-69