"Tha thứ cho tôi, nhưng tôi đã bị
một người phụ nữ trói buộc hoàn toàn. Tôi dành tất cả thời gian cho cô ấy và tôi
nghĩ chắc chắn sẽ ở đây đến hết mùa đông”, Matisse viết như vậy cho người bạn
Albert Marquet tháng 1.1918. Người phụ nữ giam giữ trí tưởng tượng của Matisse
là tác phẩm
Màn đêm của Michelangelo, một phiên bản thạch cao ông tìm
thấy ở trường mỹ thuật địa phương.
Được chế tác để trang trí lăng mộ của công tước
Giuliano xứ Nemours trong nhà nguyện Medici ở Florence, Màn đêm nằm
trong số những tuyệt phẩm của điêu khắc thời Phục hưng. Pha trộn những đường
cong yếu mềm và cơ bắp căng tròn, cơ thể khỏa thân uốn cong ở eo trong tư thế
contrapposto* gợi lên những mỏi mệt sau giao hoan và tình trạng căng thẳng dồn
nén; nàng là sự khẳng định không thể chối cãi về hình thể con người ở trạng thái
ao ước, mạnh mẽ, và phức hợp nhất.
Khi những năm 1920 mở ra, Matisse vẽ lại bức
tượng qua những biến thể của nó một cách ám ảnh. “Bức vẽ này đánh dấu bước tiến
triển thực sự trong nghiên cứu của tôi về hình thể. Và tôi hy vọng hội họa của
tôi sau này sẽ hưởng lợi từ nó”, ông viết.
Xét đến mức độ hứng thú của Matisse với điêu khắc
thế kỷ XVI, thật đáng chú ý khi đây là triển lãm đầu tiên dành cho tính hài hòa
giữa điêu khắc và hội họa. Sự cắt giảm ngân sách về nghệ thuật ở Italy đã cản
trở dự án dài hạn cần thiết cho những khoản vay lớn, ví như, từ bảo tàng
Hermitage; vì thế khan hiếm các tác phẩm sơn dầu loại A . Tuy nhiên, sự tác động
qua lại đầy mê đắm của điêu khắc, hội họa, in thạch bản, nghệ thuật cắt giấy và
một số bức tranh hé lộ những sự thật mới về một họa sỹ mà rất nhiều điều đã được
nói về ông.
Thay cho một Matisse - người báo hiệu niềm vui
xác thịt, chúng ta bắt gặp một bậc thầy lạnh lùng, và giàu quan niệm hơn. Những
niềm hân hoan mê say của sắc màu và dáng hình là quả ngọt rất khó giành được của
hoạt động hội họa và điêu khắc không mệt mỏi, chưa kể hàng chục bức tranh kém
tinh tế hơn. Điều này cho thấy nền tảng phía sau tài năng của Matisse. Rất nhiều
trong đó thật lộng lẫy và tất cả đều quyến rũ.
Khi suy xét lần đầu, sự thấu cảm giữa người sử
dụng màu bậc thầy và nhà điêu khắc thời Phục hưng không thật rõ ràng. Tuy nhiên
Michelangelo cho rằng nhiệm vụ của ông là hé lộ hình thể bị giam cầm trong đá
cũng không khác với đam mê của Matisse “để chế ngự thực tại và bằng cách chiết
xuất vật chất từ nó, khai phá nó cho chính nó”. Nhưng không giống Michelangelo,
người có cảm giác ông khám phá tạo hình của Chúa, Matisse thấy bản chất vật thể
như vọt lên với “nhân cách nghệ sỹ” của chính mình.
Tác phẩm điêu khắc mở đầu cuộc triển lãm, Nô
lệ (1900 - 1903), là lời kêu gọi tha thiết cho sự tự biểu lộ. Nó bắt đầu
như là câu trả lời cho Rodin, người sử dụng hình mẫu tương tự trong Người đi
bộ, nhưng kết quả - với thân trên giống như khúc cây, bộ phận sinh dục xô
ra, bề mặt nứt nẻ - chung quy chỉ cho thấy sự thừa thãi nam tính, điều tác mà
phẩm kinh điển của Rodin không có.
Ước muốn cho một “ hình mẫu cốt yếu” thậm chí còn
hỗ trợ hội họa trường phái Dã thú (Fauvism) của ông với nét hài hòa về cấu trúc.
Bức tranh nổi bật ở đây, Khỏa thân trong rừng (1906), bề ngoài có vẻ là
một khung cảnh phóng túng của màu vàng chanh, màu lục bảo, mâm xôi và tử đinh
hương, tuy nó làm chệch hướng và làm nhem nhuốc tính thống nhất của nhân vật
trung tâm với tứ chi kêu gọi sự trong sáng.
Thời gian đầu sự nghiệp của Matisse, Michelangelo
chỉ là một trong nhiều nhân tố ảnh hưởng. Bài thuyết minh ở triển lãm gợi ý rằng
sự bắt gặp tác phẩm Cậu bé cúi người trong chuyến đi tới Florence năm
1907 đã hình thành nên Ngực nhỏ, cúi người. Nhưng bức tượng bằng đồng
thiếc vạm vỡ, cơ bắp chắc nịch, ẩn chứa thương tổn tinh thần lại chịu ảnh hưởng
lớn từ Rodin. Mang tính đẳng cấp cao hơn nhưng không xuất hiện ở triển lãm là
Tựa đầu khỏa thân, Aurora (1907), tư thế ưỡn toàn bộ thân trước không
ngại ngùng rõ ràng có nguồn gốc từ bức tượng được lấy tên, cũng trong nhà nguyện
Medici.
Tuy nhiên, sự bắt gặp Đêm - cũng có mặt
ở đây - xảy ra vào thời điểm Matisse cần chuyển hướng. Sau khi dành những năm
chiến tranh vật lộn với chủ nghĩa lập thể, tác phẩm của ông bị tính góc cạnh mờ
mịt xâm lấn.
Khi chiêm ngưỡng sự cao siêu thần thánh của
Michelangelo, Matisse tái phát hiện ý thức của ông về hình thể con người. Làm
việc với người mẫu ưa thích - Henriette, ông phát triển một hình mẫu gợi cảm
nhục dục nhưng vẫn mạnh mẽ, được thấy trong các tác phẩm như Tựa đầu khỏa
thân (1923) và Ngồi khỏa thân (1919). Thường được khắc họa với một
hoặc cả hai tay quá đầu và một gối uốn cong, biểu hiện nửa nam nửa nữ, nhưng
biếng nhác; tác phẩm phản ánh truyền thống của Michelangelo khi làm việc với
hình mẫu nam.
Không như Michelangelo, người coi điêu khắc là
mục tiêu chính, Matisse “dính đến nó để nghỉ ngơi khỏi hội họa”. Tuy vậy, ông
tập luyện cực kỳ nghiêm túc. Tác phẩm To lớn, khỏa thân ngồi
(1922 - 1929) chỉ kết trái sau bảy năm của quá trình mệt mỏi thậm chí khiến chân
ông chảy máu. Đôi tay khóa sau đầu, hình mẫu - mềm dẻo, cơ bắp, không đặc biệt
ở tư thế contrapposto - là niềm kiêu hãnh của điêu khắc hiện đại.
Những thập kỷ trong chiến tranh chứng kiến
Matisse vật lộn hơn bao giờ hết với sự tổng hợp của hình thể và màu sắc. Khi
phấn đấu cho sự hài hòa, đôi khi ông cho cả điêu khắc vào trong giá vẽ. Được cho
mượn đến Phòng trưng bày Quốc gia ở Washington, Nghệ sỹ dương cầm và những
kỳ thủ (1924) có dáng dấp của Người nô lệ hấp hối của Michelangelo
- phiên bản Matisse sở hữu. Tấm màn ren rủ lạnh lẽo, với những sọc đen trắng
trên áo khoác của người chơi cờ đánh dấu một điểm chú ý trái nghịch, lạnh lùng
đối với tấm thảm và giấy dán tường đầy hoa văn của căn phòng.
Những kỹ năng về hình thể của Matisse, vốn đạt
được nhờ bao cần mẫn, lại gây rủi ro cho thị giác quá phức tạp của ông. Năm
1931, ông được cử vẽ bức bích họa Khiêu vũ cho Quỹ Barnes ở
Philadelphia. Để đối phó với những thách thức về không gian của dự án, Matisse
cắt các nhân vật từ giấy và gắn chúng lên giá vẽ. Kết quả đã chứng minh. “Chưa
có thứ gì có thể so sánh, cả trước đây và sau này, đã từng được sáng tạo để giải
quyết vấn đề của hình thể và màu sắc”, họa sỹ siêu thực André Masson tuyên
bố.
Những gian phòng cuối cùng ở đây là dành cho nghệ
thuật cắt giấy mà Matisse đã dành những năm cuối cùng cho nó. Một nhóm bột màu
ảnh hưởng từ các tác phẩm cắt giấy cho cuốn sách Jazz (1947) của ông
bao gồm ba phiên bản của Cái vũng. Ở đây, Matissse để cho sự trừu tượng
thuần túy chi phối, tạo nên những họa tiết tưng bừng, nhấp nhô đua chen trên giá
vẽ như những ngọn sóng. Họa pháp bí ẩn ấy lộ ra sự mâu thuẫn với Michelangelo.
Bản thân Matisse tuyên bố: “Cắt… thẳng vào màu sắc để nhắc tôi nhớ đến kiểu cách
của điêu khắc”.
Michelangelo, người nổi tiếng không hòa hợp với
màu sắc, rất có thể phải ghen tị với cây kéo của Matisse.
Nguyễn Thiện Hoàng Dương dịch
Từ Financial Times
___________________________________________________
(*) Contrapposto là một thuật ngữ tiếng Ý dùng
trong nghệ thuật thị giác, đó là khi nhân vật dồn phần lớn trọng lực lên một
chân, trong khi chân còn lại thả lỏng. Tư thế cổ điển này khiến hông và vai nghỉ
ở hai góc đối diện nhau, thân mình có dạng cong nhẹ hình chữ S.