![gfgh_(1_of_1)[1].jpg](/images/gfgh_%281_of_1%29%5B1%5D.jpg)
Trong hơn 100 năm tồn tại và phát
triển từ nửa sau thế kỷ XIX đến nay, chủ nghĩa thực dụng như một bản nhạc giao
hưởng với những thăng giáng của thanh âm, hòa điệu trong hơi thở của nước Mỹ,
của thế giới hiện đại. Bộ ba triết gia thực dụng cổ điển Charles Peirce, William
James và John Dewey đã đặt nền móng lý luận thực dụng cho nền học thuật nước
Mỹ. Không chỉ dừng lại ở lĩnh vực học thuật, lý thuyết thực dụng trong một thời
gian dài đã trở thành phong cách tư duy đặc trưng của người Mỹ, đóng vai trò
nhất định trong lối sống, hệ thống ứng
xử, nền chính trị và giáo dục Mỹ.
Sau ánh hào quang của ba nhà thực dụng cổ điển, thuyết thực
dụng chỉ còn dấu ấn trong các lĩnh vực hiện thực như luật pháp, chính trị, kinh
tế,… như một dạng đặc điểm tư duy, còn với tư cách là một trường phái triết học
thì thuyết thực dụng chỉ còn là những hình ảnh nhạt nhòa của những năm tháng
rực rỡ xưa cũ. Những George Santayana hay Reinhold Niebuhr không thể gánh vác con tàu thực dụng đã trở nên quá
nặng nề với họ. Thập niên 1950 – 1960, thuyết thực dụng “biến mất” trên sân
khấu triết học thế giới, nhường chỗ cho giải cấu trúc ở Pháp và thông diễn học
ở Đức.
Nhưng dòng chảy không ngừng nghỉ của một học thuyết mang đầy
tính hành động đã thôi thúc các triết gia Mỹ khôi phục, cải biến và làm sống
dậy học thuyết thực dụng của nước Mỹ. Lần này, với những đề xuất táo bạo trong
phạm trù chủ thể - đối tượng và ngôn ngữ của Richard Rorty, những luận giải dân
chủ của Hilary Putnam, những phân tích luật pháp sắc bén của Richard Posner,
hay những phản biện mạnh mẽ của Susan Haack,… đã hình thành một học thuyết mới,
hay nói chính xác hơn là “làm mới”, đó là thuyết tân thực dụng (NeoPragmatism).
Thuyết tân thực dụng đã nhấn mạnh tác dụng của đời sống và
thực tiễn trong triết học, luận chứng cho phương pháp luận và nhận thức khoa
học, đi sâu nghiên cứu các vấn đề hiện thực (trong đó có vấn đề đạo đức, môi
trường, luật pháp, dân chủ,…), vượt qua ý nghĩa và những chủ đề trong triết học
cận đại truyền thống như siêu hình học, chủ thể - khách thể, chân lý, khách
quan, tuyệt đối,… và cả những cách lý giải hiện thực của chủ nghĩa vị kỷ và chủ
nghĩa cá nhân. Thuyết tân thực dụng nhấn mạnh sự phối hợp giữa cá nhân đơn vị
xã hội và tính xã hội của thực tiễn và hành động con người, do đó nó mang giá
trị hành động sâu sắc.
Những nỗ lực của các triết gia tân thực dụng chính là những cố
gắng nhằm tái xây dựng và làm mới một học thuyết đã đóng vai trò nền tảng không
những cho nền học thuật mà còn cho hầu hết các lĩnh vực trong đời sống nước Mỹ
hiện đại. Công việc của các triết gia tân thực dụng hiện nay vẫn còn đang tiếp
tục. Sau khi triết gia tân thực dụng quan trọng nhất là Rorty qua đời và Putnam
không công bố thêm tác phẩm quan trọng nào, thì sứ mạng thực dụng lại được tiếp
tục với Cornel West, Andrew Light, Eric Katz,… điều đó chứng tỏ sức sống của
một học thuyết hành động và hiện thực.
Đó cũng chính là những nỗ lực lý giải và đưa ra những phương
án Mỹ cho những vấn đề của triết học đương đại. Mặc dù còn nhiều điều ở thuyết
tân thực dụng cần được tranh luận ở góc độ thế giới quan, phương pháp luận, một
số điểm trong cách tiếp cận của nó mang tính chủ quan, song chính vì thế việc
giới thiệu, phân tích, đánh giá một cách xác đáng những vấn đề đặt ra từ lý
thuyết này trong một thế giới mở như hiện nay luôn cần thiết, bổ ích.
PGS.TS. Đinh Ngọc Thạch
Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn Tp.HCM